Vừa hợp tác vừa đấu tranh!

Hai vợ chồng nhà nọ, vốn dân Miệt Thứ sống thời Pháp thuộc. Ngày nọ đám lính Lê Dương đi càn, lùng sục cả làng dân Miệt thứ. Bọn chúng đi đến đâu là cướp bóc, đốt phá đến đó. Nhà có chó heo, lợn gà chi chúng cũng lùng, cũng bắt cho kỳ hết. Đàn bà con gái coi còn được mắt, chúng đè hiếp ráo. Rủi thay con vợ của anh nông dân vốn đẻ ba lứa nhưng cũng còn được mắt. 

Vừa nghe ngoài ngỏ có tiếng xì xồ của bọn tây. Anh chồng leo tót lên mái nhà nằm run như cầy sấy, im thin thít. Chị vợ quýnh quáng, chạy không kịp bị thằng tây bắt được đè hiếp hì hụi. Thằng chồng nằm trên mái nhà nhìn thấy con vợ bị hiếp chả dám lên tiếng. Bỏ mặc con vợ bị thằng tây hành hạ trước mũi mà chẳng dám hó hé gì!
Hiếp xong con vợ thằng tây bỏ đi. Đợi khi đám cướp đi xa, anh chồng mới rón rén trườn khỏi mái nhà xuống đất. Chị vợ phần thì nhục, phần thì đau vì nhìn thấy thằng chồng hèn mạt thò lỏ mắt nhìn bỏ mặc nàng ê chề trong vòng tay lạ. Vừa kéo quần, vừa sửa lại mái tóc bù xù, vừa khóc rưng rức. 
Chẳng nói chẳng rằng, anh chồng xán cho chị vợ bạt tay, mồm chửi: “đồ đĩ rạc. ĐM tây nó hiếp mày sướng lắm hả?”
Chị vợ càng ấm ức khóc to. ” Tây nó hiếp, ông thấy mà không cứu. Đã thế còn đánh vợ nữa là sao?”
Anh Chồng bức bối đáp. “ĐM mày. Tây hiếp tao không trách. Trách là trách cái tội mày mỗi lần thằng tây giã chày trên sóc Bombo là mày cứ ưỡn mình lên là sao?”
Đã hèn còn ngu, chị vợ đốp chát. “Bộ ông mù sao không thấy thằng tây nó đè tui xuống bụi xương rồng. Mỗi lần nó hiếp là đám gai đâm vào phần lưng, mông. Không ưỡn người lên chịu đau mà được à?” Chị vợ gào to.
Tây nó hiếp thế mà không vừa hợp tác vừa đấu tranh để còn giữ cái mạng cho ông à!?
Ối trời ơi! Ông ơi là ông! Hỏi đéo gì mà ngu thế ông ơi!!!!!!

Ngoại lai, nhất bên trọng nhất bên khinh!

Hổm rài thấy nhà nước chống nền văn hoá ngoại lai rất chi là hùng dũng. Khởi đầu cho cuộc cách mệnh này là dẹp bỏ ba cái con sư tử đá gì gì đó mà nhà nước bảo là nó có nguồn gốc từ Trung Quốc. Những con sư tử đá hình thù gớm ghiếc được đặt tại các sảnh chùa chiền, nhà hàng, khách sạn, rồi đến cả các cơ quan chính phủ, UBND, phòng tiếp dân của các đại gia nhà giàu mới nổi,…

Việc bài trừ hình ảnh ngoại lai gớm ghiếc này cũng có cái hay Thứ nhất là dẹp bỏ bộ mặt đón tiếp chi mà vừa bước vào cửa quan đã thấy đáng sợ thế này. Chưa kể vào đó còn gặp thái độ các quan sư phụ mẫu có mà vãi cả quần.

Nghĩ, không biết mấy cái vụ chết người ở cửa quan vừa qua có chi từ cái sợ đón tiếp ban đầu của mấy gã sư tử đá Tàu kia không?

Thực ra cũng có nhiều tranh cãi chí choé về nguồn gốc mấy con sư tử mang khuôn mặt hù doạ dữ tợn không đáng có này. Người thì bảo nó có nguồn gốc Án Độ,được người Hoa du nhập, rồi từ đó kết họp với ngàn năm đô hộ nó mới vào Việt Nam?

Đúng sai cũng chả cần luận bàn. Bàn là bàn cái mặt gì mà hung ác, làm ảnh hưởng uy danh của vua sư tử được hàng triệu triệu trẻ nhỏ, người lớn say mê. Có chăng mấy cái thằng sư tử đá này cùng hạng vói gã Scar, người chú của Simba, lập mưu giết hai cha Simba-Kẻ tàn ác muốn thống trị muôn loài bằng sức mạnh của đám ngoại lai binh linh cẩu! Câu chuyện có vẻ giống Việt Nam mình nhỉ!? Tiếc thay khuôn mặt tàn ác của sư tử đá-Scar ấy còn xuất hiện ở cả cửa chùa, quả thiệt lạ lùng!?

Kể ra thì cũng phải nói cho hết nguồn cơn của cái gọi là ngoại lai. Ngày nay không chỉ có sư tử đá mang khuôn mặt sát thủ đầu nguyên thủ mà còn ở những con rồng đá, lân đá,… cũng tàn nhẫn không kém, thế sao không dẹp tiệm hết cho rồi!?

Ngẫm cho cùng nếu đất nước này dẹp cho kỳ cùng, tận gốc rễ những thứ ngoại lai đang tận diệt nền tảng bản địa thì hay biết mấy. Mấy cái ngoại lai kia, nói cho cùng chỉ là thứ ông kẹ, hù doạ trẻ nhỏ, người yếu móng vía,..Cái ngoại lai đáng sợ, cứ sùng sững toạ lạc trong từng nhà, nơi chùa chiền, các cơ quan bộ sậu quyền lực đáng sợ gấp ngàn lần.

Sự du nhập và tồn tại của nó, dầu cực ngắn ngủi nhưng đã đủ để lại di hoạ khổ đau tận cùng cho cả dân tộc bất hạnh này! Dũng cảm dẹp đi thứ văn hoá ngoại lai sư tử đá-Scar kia thì còn ngần ngại gì mà không dẹp đi mấy cái lão râu xồm chễm chệ ngôi cao nơi bàn thờ tiên tổ. Hình ảnh đẫm máu của công cụ vô tri liềm búa được những tay người ngoại lai biến thành công cụ đẫm máu nhuộm đỏ một biểu tượng kinh hoàng!

Ngoại lai từ tư tưởng, hình ảnh và các ảnh hưởng khủng khiếp ấy đang ngày đêm tàn phá đất nước này, dân tộc này. Lưu giữ chúng phải chăng là lợi ích, và quyền lợi của nhóm nhỏ người các ông- kẻ có quyền quyết định phủi đi hay lưu giữ!?

Chừng nào cái ngoại lai đồ tể, quái gỡ kia còn dằng dai ảnh hưởng, và chi phối toàn bộ quyền tự quyết, quyền sống, quyền làm người của dân tộc này, thì chừng đó “ngoại lai” cho mưu cầu quyền lực. “Ngoại lai” đảm bảo cho thú vui hưởng lạc trên sự đau khổ của đồng loại của một nhóm nhỏ người tham tàn và hung ác hiểu rõ và một nhóm nhỏ phù phiếm mụ mị, sợ hãi cộng sinh, hưởng xái phần rơi rớt từ những kẻ thống trị!

Ờ mà phải chăng chối bỏ, từ bỏ và dẹp bỏ những biểu tượng, hình ảnh, những tư tưởng ngoại lai ấy là trách nhiệm của kẻ du nhập thôi sao? Trách nhiệm 90 triệu con dân này đâu rồi?

Máy cái này có nguồn gốc bản địa hay ngoại lai? Thiệt tình rối như canh hẹ!

Đảng ta quang vinh mãi mãi!

Họp bộ sậu đảng cao sao vàng-Đảng xức sầu cù là, chủ tịch đảng thờ ơ nhìn lướt qua đám hạ bộ, e hèm lên tiếng:

- Các đồng chí đây, tất cả đều rất mực trung thành! Tựu trung đều kiên định, một lòng một dạ cúc cung tận tuỵ, tin tưởng tuyệt đối đường lối, tư tưởng tiên ông, thánh nhân, bồ tát cục tác hiện thân,…!

- Thế giới đang biến đổi từng giờ, từng ngày theo hướng bất lợi cho sụ tồn vong của đảng xức dầu cù là chúng ta. Giờ mà đếm đi đếm lạ cũng chưa hết một bàn tay các Cương quốc kiên định con đường xức dầu! Rủi thay trong lý luận, luận lý của những cái đầu uyên bác trong đảng viên cao sao vàng còn nhiều hạn chế và bế tắt.
Nay nhân buổi triệu tập cuộc họp tối mật này, tôi muốn chỉ rõ ra con đường sáng, con đường hy vọng cho tương lai Đảng ta!
– Hỡi các chiến hữu thân mến! Các chiến hữu có thật sự cùng ta đêm quên ăn, ngày quên ngủ? Có thật sự cùng ta năm gai nếm mật trải mấy mươi năm đêm rừng muỗi vắt ở long sàng? Thành quả ấy phải chăng có được là nhờ ở thiên tài đảng ta?
– Câu trả lời là tự thân nơi những cái đầu ưu việt của các đồng chí! Và hẳn không ai trả lời là không có! Chủ tịch đảo mắt nhìn.
– Này các chiến hữu thân mến! Các chiến hữu có thấy tụi nó giẫm đạp nhau để tranh mua hàng hiệu giảm giá không? Đám bộ hạ đồng thanh đáp lời ” Dạ cóóó….”
– Dân chúng lũ lượt chen chút nhau để được ăn chực những bữa ăn miễn phí không? “Dạ cóóóó….”
– Có thấy bọn chúng tranh giành một suất mua căn hộ cao cấp vừa qua ở HN không? “Dạ cóóó….”
– Các bộ hạ thân thương của ta có thấy Nhật nệ, quan nùn, và nhiều nhiều những đứa như thế không? “Dạ cóóóó…”
– Có thấy các sư thổi kèn, tự sướng không?
– Các đồng chí có thấy nền giáo dục chúng ta chỉ tạo ra những thằng làng nhàng dở thầy dở thợ không? Chức hàm học vị của các vị đây chỉ là chuyện nhỏ nếu có mối quan hệ thân quen và lắm tiền không? Im lặng?
– Các đồng chí có thấy cảnh phố phường ngập rác sau lễ hội không? “Dạ cóóóó…”
– Các đồng chí có thấy đại bộ phận im lặng kiếm ăn thay vì dám nói lên chính kiến của mình không? “Dạ Cóóó…” Lúc này tiếng la lớn và hứng khởi dị thường!?
– Các đồng chí có thấy nước ta có nhiều giáo sư tiến sĩ chuyên ngành ốc vít nhưng chẳng thèm làm ốc vít bán cho Samsung không? “Dạ cờ hóóóó….”
– Các đồng chí có thấy những đồng chí già trong những buổi kỉ niệm 60 năm, 80 năm vẫn kiên định một con đường không? ” Dạ có ạ!”
Còn nhiều nhiều nữa những cái “thấy” của tôi và cái “Dạ có” từ các đồng chí mà tui không thể liệt kê ra hết. Các đồng chí có hiểu “cái thấy” ấy thế nào cho vận mệnh tồn vong của đảng xức dầu chúng ta không? Cả bộ hạ đồng thanh đáp lời: ” Dạ thưa đồng chí chủ tịch đảng xức dầu, những hiện tượng đó là điềm báo ứng đảng ta còn quang vinh mãi mãi ạ!”
Mừng thay, các đồng chí đây đều nhận ra dấu hiệu đó! Tôi nhiệt liệt hoan nghênh các đồng chí sáng suốt nhìn ra ánh sáng ở cuối đường hầm! Chúc các đồng chí dồi dào sức khoẻ, nghiên cứu thêm nhiều lý luận, luận lý mang tính thực tiễn, ứng dụng vào đời sống xã hội chúng ta. Chúng nó càng điên cuồng úp mặt vào chổ tối càng tốt. Chừa lại phần sáng trên đầu chúng cho tụi mình ngồi! hehehe…Hình minh quạ các đồng chí thấy có sướng hông nào!?

đè đầu

Cha con cùng nói dối!

lyMất chìa khoá xe, mất luôn con khủng long bằng bông nhỏ híu. Món quà của con gái tặng bố. Nó bảo: “Bố móc con khủng long bằng bông này vào chìa khoá xe nhe! Con yêu con này lắm! Có nó, xem như lúc nào con cũng bên bố rồi đó!”
Tối về nhà nhờ quá giang đồng nghiệp. Con gái hỏi: ” xe đâu mà bố về nhờ?”
Bảo với con: Bố đánh rơi chìa khoá xe và con khủng long mất rồi. Con bé thoáng buồn vì mất đi người bạn thiết thân của nó. Trông con bé nghĩ ngợi lung lắm. Đi tắm ra thấy con gái đưa cho chiếc móc khoá mới, nó bảo:
-Con Doremon này bạn con nó cho lâu rồi mà con chưa xài. Bố lấy con này gắn vào chìa khoá xe mới đi bố!
Nhìn cái móc khoá mới tinh, nhìn đôi mắt ngây thơ của con bé mình nhận ra sự khác biệt trong lời nói có vẻ hoàn hảo!?
Bố cảm ơn con nhiều! Con bé đáp: “Bố phải cảm ơn bạn con mới đúng, bạn con cho con mà. Ừ vậy con cảm ơn bạn con giùm bố nhé! Con bé hài lòng vì bố có vẻ vui với món quà của nó. Quan trọng là nó nghĩ bố đã tin nó!?
Sáng, qua hỏi chị bán tạp hoá cạnh nhà. Chị bảo, bé Lý hồi hôm qua đây mua cái móc khoá Doremon.
Chiều về con bé đón ở cổng hỏi: Bố có thích cái móc khoá Doremon không? Bạn bố có khen nó đẹp không? Mình nói dối bảo có!
Nhìn con bé mân mê cái móc khoá . Chạnh lòng, ôm con vào lòng hỏi nó:
-Con có sợ bố mắng không? Con bé đáp: Con sợ. Vì sao con sợ, bố có mắng bao giờ không?
-Thế con nói dối, bố mắng thì sao? Dạ thì bố mắng đúng. Con bé đáp.
Con có nghĩ bố biết con nói dối không? Con bé im lặng nhìn mình, nhìn cái móc khoá. Nhìn dòng nước mắt chảy dài hai bên khoé mắt! Con gái vẫn cúi đầu, oà khóc nức nở:
-Tại con thương bố và muốn cho bố một bất ngờ thôi mà!

Vì sao Metro!?

Hiện nay rất nhiều nước phát triển có đường sắt đô thị-Metro. Loại phương tiện vận chuyển hành khách công cộng này có thể đi ngầm, đi nổi và đi trên cao, tuỳ theo điều kiện cơ sở hạ tầng đô thị. Đường sắt đô thị được xem là giải pháp cho bài toán vận chuyện giao thông của người dân đi lại trong thành phố ngày càng tăng cao. Đơn giản vì chúng có thể vận chuyển số lượng hành khách khổng lồ hàng ngày, tránh phát triển xe cá nhân quá mức, giải quyết bài toán ô nhiễm môi trường đô thị tại các thành phố lớn,…

Tuy nhiên để có một hệ thống ĐSĐT hiện đại như thế đòi hỏi nguồn vốn xây dựng thường rất lớn, nguồn nhân lực, vốn khoa học công nghệ, khả năng chế tạo ra phương tiện, khả năng tự thiết kế, thi công, vật liệu xây dựng hệ thống đường sắt,….Đa số các quốc gia phát triển hệ thống Metro là các nước có nền công nghiệp phát triển như Pháp, Mỹ, Nhật, Đức, Anh,..Phần lớn phương tiện vận chuyển là do họ tự nghiên cứu và chế tạo ngay trong nước. Rất ít các quốc gia xếp hạng kém phát triển dám bỏ tiền đầu tư một hệ thống như vậy, nếu không qua con đường vay vốn ODA từ các quốc gia có hệ thống metro do chính mình chế tạo.

Vậy vấn đề muốn đặt ra ở đây là vì sao một nước nghèo như VN, có nền khoa học kém phát triển, cơ sở hạ tầng giao thông đô thị thuộc hàng yếu kém trong khu vực. Quốc gia còn đang kẹt cứng trong bẫy thu nhập trung bình lại được các nước viện trợ ODA để phát triển hệ thống Metro?

Thực tế cho thấy. Khi VN ngửa tay nhận đồng vốn vay ODA của nước nào, thì VN buộc phải sử dụng hoàn toàn công nghệ của nước cho vay. Ngoài việc buộc phải mua thiết bị, VN còn phải thuê tư vấn nghiên cứu khả thi dự án,  tư vấn thiết kế, tư vấn xây dựng, tư vấn giám sát, thậm chí cả đội ngũ nhân công xây dựng đường sắt đô thị cũng của nước cho vay ODA( Trung Quốc). Ở đây có thể hiểu là VN hầu như chỉ là bên phản biện yếu ớt vì không đủ kiến thức để được biết họ làm gì. Chỉ là bên gật đầu ký vào các báo cáo nghiên cứu mà họ đã đưa ra.

Theo qui hoạch chi tiết hệ thống giao thông tại các thành phố lớn như Hà Nội và Sài Gòn từ đây cho đến năm 2030 thì Việt Nam có khoảng 12-16 hệ thống ĐSĐT, nguồn vốn ODA sẽ cần thêm ít nhất 20 tỉ USD! Hà Nội có ít nhất 8 tuyến chính, bao gồm các tuyến như Nhổn-Ga Hà Nội dài 12,5 km, Cát Linh- Hà Đông 13, 5 km, Nam Thăng Long-Tây Hà Nội dài 16 km, Tuyến đi qua khu phố cổ Hà Nội dài 11, 5 km,..Trong đó tuyến Cát Linh-Hà Đông vay vốn ODA của Trung Quốc.

Rõ ràng việc cho vay vốn ODA của các nước phát triển thực tế là để bán sản phẩm, thúc đẩy giải quyết việc làm của chính họ. Còn dự án khi hoàn thành có lợi cho quốc gia đầu tư như thế nào thì nước đó tự lo dựa trên các báo cáo khả thi mà bên cho vay đã lập ra! Đồng vốn ấy rồi cũng quay về.

Như vậy đồng nghĩa với việc nước ta xây dựng ĐSĐT trong thời gian còn kẹt cứng trong bẫy thu nhập trung bình. Theo một nghiên cứu đánh giá và dự báo, VN ít nhất phải mất hơn 40 năm nữa để có thể vượt qua được bẫy thu nhập trung bình.  Nhận định này được OECD đưa ra tại Diễn đàn Phát triển châu Á (ADF), lần đầu tiên được tổ chức tại Hà Nội ngày 19/9. Với chủ đề “Vượt qua bẫy thu nhập trung bình”. Điều đó có nghĩa là ta làm hệ thống đường sắt đô thi hiện đại và cực kỳ tốn kém như thế hoàn toàn từ tiền vay bạc hỏi. Và dĩ nhiên khoản vay khổng lồ và cực kỳ lãng phí do tham nhũng kinh khủng hiện nay sẽ do thế hệ sau gánh vác, è cổ mà trả nợ.

Từ thực tế đó, ta thường thấy giá ban đầu một dự án như vậy thường chỉ khoảng 1/2, 1/3 so với giá thực sự bị đội lên trong quá trình xây dựng hay hoàn thành. Cụ thể như hệ thống đường sát Cát Linh-Ga Hà Nội do TQ xây dựng cả gói. Bao gồm công nhân TQ, phương tiện vận tải, …Không biết vật liệu xây dựng như xi măng, sắt thép, hệ thống dẫn điện,… có phải là 100% của TQ hay không? Giá thành ban đầu chỉ 435,7 triệu USD nay thì đội vốn lên gần gấp đôi 891,9 triệu USD. Liệu đây có phải là cái giá đã chốt hạ hay còn tiếp tục đội? Một điều đáng nói nữa là hầu hết các gói thầu xây dựng ĐSĐT tại cả hai thành phố lớn đều châm tiến độ và cũng chưa biết khi nào hoàn thành?

Đó là chưa nói đến một đội ngũ nhân viên điều hành khổng lồ cho một tuyến đường, ví như tuyền Cát Linh- Hà Đông khi hoàn thành cần tới 600 người. Phí bảo trì, bảo dưỡng thiết bị chạy tàu sẽ rất tốn kém. Mặc dầu tốc độ chạy tàu có khả năng là 80km/h, nhưng tốc độ lữ hành bình quân cũng chỉ đạt 34km/h. Năng lực thiết kế có thể chuyên chở một triệu hành khách ngày. Với tình hình cơ sở hạ tầng như VN, thói quen sử dụng xe cá nhân thì liệu các tàu này có khai thác hết công suất?

Vậy câu hỏi đặt ra là VN liệu có cần thiết phải xây dựng ĐSĐT bằng mọi giá hay không? Liệu còn có lựa chọn nào khác rẻ hơn, phù hợp hơn với thực tiễn đất nước còn đang nghèo khó mà vẫn giải quyết được bài toán giao thông đô thị đang quá tải như hiện nay? Theo ý kiến chủ quan của ngừi viết bài này là với tình thế hiện tại, VN hoàn toàn có thể lựa chọn phương án khác thay thế cho việc xây dựng ĐSĐT quá tốn kém như vậy.

Việc làm đường sắt đô thị chung qui cũng là xây dựng các tuyến đường riêng đặc biệt cho một loại phương tiện đặc biệt lưu thông. Có nghĩa là trên truyến đường này sẽ không có bất kỳ phương tiện nào khác cùng lưu thông.Do đó mà phương tiện di chuyển trên tuyến đường đó sẽ không bị kẹt xe. Việc đi và đến luôn luôn đúng giờ. Ngoại trừ sự cố hỏng tàu!

Rõ ràng dựa vào ý tưởng này ta có thể thay vì làm đường sắt đô thị, thì tại sao không dùng nguồn tiền đó để làm đường dành riêng cho xe buýt? Tuyến đường cao tốc Hà Nội-Lào Cai dài 245 km xây dựng tốn hết khoảng 1,5 tỉ USD. So với toàn bộ các tuyến ĐSĐT ở cả hai thành phố lớn cộng lại cũng chưa tới 200 km. Như vậy, với số vốn của vài tuyến ĐSĐT, VN có thể xây ít nhất 200 km đường dành riêng cho xe buýt, vừa rẻ, vừa nhanh với nguồn lực hoàn toàn trong nước.

Vấn đề là VN cần phải thiết kế đóng mới xe buýt dành riêng cho các tuyến đường này phải lớn hơn, chở nhiều khách hơn, hiện đại hơn, đẹp hơn sử dụng nhiên liệu sạch ít gây ô nhiễm môi trường, đảm bảo chuyên chở hành khách đến và đi đúng giờ. Xe buýt hiện nay do Transinco-một doanh nghiệp “lợi ích” của BGTVT thiết kế và đóng mới cực kỳ xấu xí, chất lượng tồi, lưu thông trên đường làm xấu thêm bộ mặt giao thông vốn đã kém càng thêm kém!

VN là một nước nghèo, chi tiêu thế nào cho hợp lý luôn là vấn đề cần được đặt ra. Chi tiêu hợp lý cho phát triển sẽ dôi ra một nguồn vốn lớn để có thể dành cho các ngành khác chẳng hạn như chi thêm cho giáo dục để bộ viết sách giáo khoa mới bán cho con nít. Chi cho ban tuyên giáo trung ương in tài liệu tuyên truyền về Hội Nghị Thành Đô bí mật gửi cho đảng viên, chi cho quân đội mua thêm tàu lặn để bám bờ, mua súng ống sát thương để đàn áp biểu tình trái phép, chi cho bộ y tế mua thêm kim tiêm, vaccine, chi cho mặt trận tổ quốc làm từ thiện giúp dân nghèo có sức thêm tin và yêu đảng hơn!

Riêng ĐSĐT, hãy để lúc nào VN giàu hơn thì hãy xây cũng không muộn! Chỉ lo muộn là muộn cho các bác vẽ ra dự án mà không làm được, thì chẳng có chi mà xơi! Thôi thì không xơi lớn thì xơi nhỏ cũng được mà. Ăn ít no dai là vậy. ăn nhiều dễ hóc!

Làng tôi đâu rồi!?

 
Hôm nay ngồi buồn bổng nhớ hai câu thơ trong Lục Vân Tiên của nhà thơ mù Nguyễn Đình Chiểu “Trước đèn xem chuyện Tây Minh. Gẫm cười hai chữ ân tình éo le!”. Hai câu thơ gợi nhớ ngày quá khứ ngày xưa khi trở về làng tôi. Ngôi làng nhỏ xíu, trù phú nằm dọc bờ sông Tiền bị tàn phá nặng nề bởi dòng chảy hung hản của con sông mỗi mùa nước nổi tràn về.
Sau 30/75 cả gia đình dắt díu nhau về làng ni sau khi ba đã được tẩy não. Nhà cửa bị tịch thu, bị đuổi việc. Hồi xưa ông già làm hiệu trưởng trường Kỹ Thuật Nông Thôn ở Vĩnh Long. Lúc đó còn nhỏ, chỉ mới mười tuổi. Việc trở về làng nơi chôn nhao cắt rốn của mẹ đối với mình là một chuyện gì to tát và kỳ thú lắm. Không kỳ thú sao được, vì với trí tưởng tượng của thằng nhóc như mình là biết bao nhiêu viễn cảnh tươi đẹp đang chờ đón nó. Nào là tha hồ tắm sông, đi bắn chim, câu cá, đi mò cua bắt ốc,…toàn là tưởng tượng bao nhiêu chuyện để chơi và càng ít nghĩ đến việc đi học chừng nào càng thích chừng đó! Từ một thằng nhỏ thành thị, bước vèo một cái về với thế giới nông thôn, với mình quả là điều hết sức kỳ diệu.
Điều đầu tiên một thằng nhóc như mình cảm nhận được đó là đêm đầu tiên ở thôn quê không có ánh điện. Cả nhà chỉ có mỗi cái đèn dầu Huê Kỳ trứng vịt cháy leo lét. Vì là dân thành phố nên chuyện ăn cơm cũng theo nếp xưa, thông thường bữa tối vào tầm khoảng sau 18 giờ. Cả nhà năm anh em toàn lích nhích. Thằng lớn nhất là mình. Đám em nhỏ nhặng xị đòi ông già mình bật đèn để xem tivi. Ông già mình đành nói dối bọn nhóc là điện bị mất nên không thể xem ti vi được. Mấy đứa nhỏ thấy bóng tối nên càng sợ ma tợn. Mình làm anh thấy tụi nhỏ bảo ma nên cũng cuống cuồng theo.
Cả tháng đầu mỗi khi bóng đêm phủ chụp xuống sau ngày vui chiến thằng, lũ nhóc anh em nhà mình chỉ trùm chăn ngồi túm tụm trên giường chờ đợi bữa cơm tối. Tịnh không một thằng nào can đảm dám mò ra ngoài để đi đái.  Cũng vì cái tính sợ ma này mà thằng em thứ tư của mình dính cái tật đái dầm kéo dài cho tới khi nó 14 tuổi!?
Con người vốn là một sinh vật thích khi khá tốt với sự thay đổi môi trường! Dần dà rồi đám anh em nhà mình cũng bắt đầu hội nhập với đời sống thôn quê. Chúng nó không còn đòi ông già mở điện để xem ti vi, không còn sợ ma như cái hồi mới về. Mình cũng đã can đảm hơn khi dắt mấy thằng em đi đái ban đêm. Sống ở làng quê có cái thú là đái chỗ nào cũng được.
Nhà mình vườn rộng, cây cối um xùm vì bị bỏ hoang mấy chục năm nên đêm về thường nghe tiếng chim cú kêu rùng rợn. Mình nhớ có hồi thằng em thứ tư nhà bị bệnh kéo dài cả tháng. Lúc đó chả có bệnh viện hay thuốc tây gì cả. Tất tần tật nhà mình ai bệnh thì đi trị bệnh mấy thầy lang trong vườn. Thuốc của mấy ông lương y làng tôi chỉ là cây thuốc nam được mấy người làm từ thiện hái về phơi khô chặt nhỏ để làm thuốc. Thằng em bị bệnh ban bạch? bệnh tình thằng nhỏ kéo dài đến nỗi chỉ còn da bọc xương. Mấy ông thầy thuốc nam tiên lượng thằng nhỏ sẽ chết. Đêm nào tiếng đám cú vọ kêu là bà già khóc dữ lắm.
Người miền tây cho rằng tiếng kêu con cú mèo là điềm gỡ!? Còn nhớ hồi nhỏ đọc mấy tờ báo xuất bản trước khi miền nam lưu vong tờ Thần Chung thì phải, có đăng phóng sự trước khi tử hình cậu Út Trầu-Ngô Đình Cẩn thì đêm hôm trước tử hình có con chim cú mèo đậu trên nóc khám Chí Hoà kêu suốt đêm?
Mỗi lần đám cú mèo kêu ông già ra ngoài vườn lượm đá ném để xua đuổi chúng bay đi chỗ khác. Nhờ may mắn có ông thầy Năm Đạt, ông trước đây là thầy giáo làng, ổng có bằng đíp-lôm thời tây cũng hành nghề thuốc nam. Ổng đến gặp ông già mình và nói ” thằng nhỏ có lẽ không còn sống được bao lâu. Mọi phương cánh thầy-ba mình cũng đã lo cho nó rồi. Thôi thì phước chủ may thầy. Tôi chỉ còn phương thức cuối cùng may ra cứu được thằng bé” Nói xong ổng kêu ông già bế thằng bé ra ngoài để ổng lể. Lể trong đông y thời đó là dùng mảnh sành sạch cắt lên da đứa em mình. Cắt chỗ nào ổng dùng tay nặn máu chỗ đó. Ổng bảo là máu thằng nhỏ có màu đen? Lể đau đớn vậy mà thằng em mình chả hề khóc tiếng nào, đơn giản vì thằng nhỏ quá yếu để mà có phản ứng lại với đau đớn.
Sau khi lể xong, Cậu Năm Đạt-mình kêu ổng bằng cậu về phòng mạch bốc cho thằng nhỏ một thang thuốc. Ổng nói với ông già sau ba thang mà thằng nhỏ không ngồi dậy ăn cháo thì tôi cũng đành bó tay! Ơn trời sau ba thang thuốc của ổng thằng em mình hồi phục và khỏi bệnh hẳn. Thằng em khỏi bệnh bà già đến quỳ lại cậu năm rồi oà khóc nức nở!
Ông thầy năm Đạt người ốm như que củi, chỉ ăn chay trường. Trong nhà ổng cực kỳ sạch sẽ, ổng sống thanh tịnh. Cứu người nhưng ai đưa tiền ổng đều không nhận và cực kỳ khó tính. Ai có bệnh đến mà có thái độ không phải là đuổi về không điều trị. Thường người bệnh đến điều trị chỉ cần trả công cho ông Năm bằng cách hái mấy cây thuốc mọc hoang về rửa sạch, bỏ bao đem đến để ổng làm thuốc. Mỗi tuần ổng đóng cửa một lần, dắt chiếc xe đạp đòn dong đi kiếm thuốc khắp các vườn trong làng. Vườn nhà mình rộng lại còn khá hoang hoá nên hầu như tuần nào cũng thấy cậu năm lúi húi đào xới để tìm thuốc. Bà già mình thi thoảng có đồ ăn đem biếu nhưng ổng không nhận, phải lén lút đưa cho mợ năm. Ổng mà biết được mợ năm nhận đồ biếu của ai là ổng đánh dữ lắm.
Cậu năm có ba người con, nhà không có ruộng vườn chi cả mấy người con của cậu năm cũng làm thuê, làm mướn trong làng, mợ năm cũng làm thuê. Ba mình hay kêu mợ năm làm cỏ vườn. Bà có tâm rất sạch, nghèo khó vậy mà không bao giờ sơ múi bất cứ cái gì của ai. Làm vườn nhưng hễ thấy trái cây trong vườn rụng, bà đều lượm rồi đem vô cho má mình.
Mỗi khi làm vườn bà năm đều bới cơm đem theo. Buổi trưa của bà thường thấy là muối mè, và ít rau dại hái trong vườn. Khi nào ngon lắm có cái trứng luộc hoặc miếng đậu hủ kho nhỏ xíu!
Anh con lớn của mợ năm tên là Bé Ba, anh này trước đây đi lính chế độ cũ, bị thương nên sau khi về làng thay đổi tính tình suốt ngày nhậu như hủ chìm. Anh năm con út đi bộ đội ở Campuchia bốn năm mới về làng dắt theo cô vợ người Campuchia. Về được năm ngày trở lại Cam rồi biệt tích luôn từ đó.
Chị Bé Tư yêu một người làng khác dắt về nhà giới thiệu cậu Năm không đồng ý. Nghe nói chị khóc hết nước mắt năn nỉ mà ông già cũng không thay đổi quyết định. Bỏ nhà theo trai và biệt tích luôn từ dạo đó. Người trong làng không ai còn thấy chị trở về vì nghe nói cậu Năm đã từ chị và thề độc “tao có chết mày cũng đừng có trở về mà chịu tang”. Tội nghiệp mợ năm phận đàn bà cam chịu, bà ngày ngày lầm lũi như chiếc bóng. Ngày ngày đi làm thuê mua gạo để nuôi ông thầy thuốc thanh bần!
Cậu Năm Đạt mất không thấy bất kỳ đứa con nào về chịu tang ông ngoài anh Bé Ba ngồi cạnh quan tài say ngất ngưỡng. Cậu năm mất bà Năm cũng bỏ làng đi ra chợ Sa Đéc ăn mày, bà già yếu quá không ai còn thuê. Ông già mình bảo mợ năm lang thang đi ăn xin thấy đau lòng làm sao!
Bà năm chết vào một ngày mưa khóc lóc tháng bảy. Bà chết không một giọt nước mắt khóc thương nào nhỏ xuống cho bà. Ngày bà chết nghe đâu hội từ thiện cho cái hòm bằng ván gòn, người ta liệm bà trong áo quan rồi đem thiêu. Anh bé ba giờ không còn uống rượu nữa mà hành nghề chạy xe ôm. Ông già thi thoảng có gặp ngoài chợ Sa Đéc. Mỗi lần gặp ảnh hỏi thăm mình “thằng Cu nhà chú giờ làm gì sao không giúp gì được cho chú hay sao mà chú già rồi còn phải đạp xe đạp đi chợ cực khổ vậy chú!?” hic
Nước mình sắp được lên thiên đường tới đít rồi, con người ai cũng có quyền chọn cho mình cảnh khổ để hưởng sái nghĩ thiệt là nhân văn và độc đáo lạ thường! Ai chưa một lần lâm vào cảnh khổ cũng nên thử tham gia vào đám người cùng khổ một lần để nếm trải cay đắng mùi đời cho biết, kẻo sau này có muốn khổ, muốn chết chẳng còn dịp nữa, bởi rồi tất cả chúng ta đều sống mãi như tiên ông Bành tổ đó thôi!

Dì Tư Xom.

 
Hồi còn sống ở cái làng An Hiệp bé tẹo, nghèo khó. Đất đai là công cụ sản xuất của Đảng giao cho dân bị Hà Bá ngày đêm xà xẻo! Dân tình nhộn nhạo mai dỡ nhà, mốt dựng nhà. Cứ điệp khúc này mà hát mãi nên nhà ngày càng bé tẹo và tạm bợ hơn! Nhà mình chẳng khá gì hơn là cái chòi lá của trẻ con thuở chơi nhà chòi.
Đối diện với căn hộ rách bươm nhà mình phía bên kia sông là nhà dì tư Xom. Dì tư dáng người nhỏ thó, miệng rộng, ăn nói sang sảng như đàn ông. Miệng lúc nào cũng bỏm bẻm nhai trầu. Ngán nhất là mỗi khi bả qua nhà chơi trong lúc miệng đang nhai trầu. Cứ bạ đâu phun đó. Vì là khách đến chơi nhà nên không cách chi nói được với dì. Nhà thì nền đất chỗ nào di tư phun trầu nó cứ nhão ra. Đã thế khi nhai trầu nước dãi màu đỏ ứa ra hai mép, dì tư dùng ngón trỏ và ngón cái quẹt mồm rồi quệt lên thành ghế hay vách nhà thiệt là ớn hết sức!
Dì tư có tật là ghé nhà mình có khi ngồi nói chuyện đến khuya. Dì nói bất kể chuyện chi. Nói về gia đình dì, tố khổ cái lão chồng dâm loàn đã bỏ dì theo người đàn bà khác. Nói về đám con dì, con dâu dì,…Nhiều khi nói những tình huống khiến dì cười đái trong quần luôn! Oải nhứt là khi đang học bài gặp dì tư qua chơi nhà, y như rằng sáng hôm sau tiết kiểm tra miệng ăn phải con ngỗng là chuyện thường tình. Hồi nhỏ học hành dỡ hơi. Bài chi thuộc lòng phải gạo đi gạo lại cả tiếng mới may ra nhớ lõm bõm!
Nhà di tư Xom không có đất ruộng trồng lúa. Dì bảo, tao trước kia nhà cũng có cả chục công ruộng trồng lúa một vụ rất trúng. Nhưng cái thằng chồng cặt ngựa câu kết với con đĩ lồn lừa đã lừa bán cho người khác rồi!?
Thu nhập chính của Dì tư Xom là cách nhật chèo xuồng sang phía bên kia bờ sông Tiền, thuộc huyện Cao Lãnh để hái rau muống mọc dại về bó thành từng lọn nhỏ rồi đem ra chợ Sa Đéc bán lấy tiền đổi gạo! Hồi đó người dân quê tôi gọi vùng đất màu mỡ phía bên kia sông Tiền là bên cồn. Cồn tức là vùng bãi bồi phù sa. Nơi đó dân chúng thưa thớt, đất còn hoang hoá. Bãi bồi có nhiều tôm cá, rau cỏ mọc xanh um, cực kỳ tươi tốt. Đặc biệt rau muống đỏ, cọng nào cọng nấy mập ú cỡ ngón tay cái, Rau trai cọng to bằng ngón tay trỏ, hái về luộc, ăn mềm và ngọt. Ăn cơm bằng rau này luộc chắm mắm kho quẹt là số dzách!
Mắm kho quẹt của người nhà quê miền tây khác một trời với món kho quẹt chấm rau tập tàng trong mấy nhà hàng quán nhậu đất Sài Gòn. Kho quẹt của người miền tây là nước mắm bỏ vào cái ơ đất nung đặt lên bếp củi và đun chừng nào cạn còn lại hổn họp sền sệt như muối. Món kho quẹt tuỳ chỗ giàu nghèo mà có thêm chút đỉnh sự khác biệt, khi thì thêm vào ít tép mỡ, mấy trái ớt hiểm xanh. Kho quẹt chấm rau luộc, rau sống chỉ tổ vở nồi cơm nhà nghèo. Thời đó gạo vốn là thứ chính trong bữa ăn hàng ngày. Ngoài trời mưa lâm thâm ăn cơm với nước mắm kho quẹt là sướng nhứt. Ăn xong một đập hai xoa leo lên giường trùm chăn ngủ một mạch tới sáng còn chi bằng!
Phần lớn người làng tôi đều sang cồn để kiếm sống. Nào là đánh cá, chất chà cá he, chà tôm, cào hến, chặt ngó bần về làm củi đốt, hái rau muống, làm thuê cho mấy chủ đất giàu có bên kia,…
Dì tư làm việc cần mẫn hàng ngày. Trong đời chưa thấy người đàn bà nào cực khổ như dì. Ngày nắng hay ngày mưa gì bà cũng đều đặn làm cái công việc cực khổ đó mình ên. Sáng tầm 3 giờ sáng, dì tư dậy nấu cơm gói vào lá chuối với ít con khô, múc một ấm nước lóng phèn đem xuống xuồng, rồi bơi một mình sang kia sông để hái rau muống. Công việc bơi xuồng ghe nhỏ qua sông Tiền trong mùa mưa bão thường gặp nhiều rủi ro chết người. Sợ nhất là lúc giông gió thời điểm vượt sông. Mặt sông đang yên lặng bỗng sóng nổi cồn cao 2-3 mét, quật từng cơn thì xuồng ghe nhỏ, chở khẳm là bị nhấn chìm như chơi. Làng tôi chứng kiến nhiều vụ lật xuồng rất thương tâm!
Hồi đó có con bé tên Sáu Sậu cũng cỡ tuổi mình có mang đâu chừng sáu tháng đi cấy bên cồn về xuồng bị giông lốc nhấn chìm. Trên xuồng có 6 người. Ba người chết trong đó có Sáu Sậu và đứa con hài nhi trong bụng! Xác Sáu Sậu trôi tuốt xuống bến phà Mỹ Thuận phải bốn ngày sau người nhà mới tìm thấy đã trương phình! Sáu Sậu chết lúc mới 16 tuổi cùng với đứa con không biết ai là ba nó!? Sáu Sậu mồ côi cha mẹ, ở với ông ngoại có thời đi lính cho Tây tận Algieri!
Thường dì tư đi từ sáng sớm đên tối mịt mới trở về nhà. Ngoài đống rau muống ngập xuồng còn có mấy trái bần chín cây, bắp chuối xiêm, xoài chín,…dì bảo là lượm trong các bờ đê bao!? Về nhà bà cột cái xuồng vào bến rồi một mình lúi húi vác lên bờ để lặt là già, lá sâu xia, cắt bỏ rể mọc từ nách lá, bó thành từng lọn cỡ cổ tay người lớn bằng cọng lá chuối khô xé nhỏ. Thường dì chỉ làm việc một mình. Có nhiều đêm dì làm cho tới gần sáng mới xong. Sau khi đã bó xong, dì lại vác xuống xuồng rồi bắt đầu chèo ghe ra chợ Sa Đéc để bán.
Hồi đó từ làng ra đến chợ Sa Đéc đường sông khoảng chừng 4-5 cây số, chỉ có một con đường ngắn nhất là đi cặp dòng sông Tiền. Ngán nhất là chèo ghe đi vào mùa nước nổi. Vào mùa này, nước phù sa đỏ ngầu từ thượng nguồn đổ về rất mạnh. Suốt mùa nước nổi dòng chảy chỉ một chiều duy nhất. Dòng chảy mạnh đến nỗi nhiều khi ghe trang bị máy đuôi tôm cũng phải ì ạch vượt qua những chổ xoáy hiểm trở. Đó là chưa kể đến hiện tượng đất lỡ hết sức nguy hiểm. Nếu ai xui xẻo đang đi gặp đất lỡ thì xuồng ghe bị hút vào và nhấn chìm tợ như gặp cơn sóng thần nhỏ. Hồi trước nhà mình cũng từng bị mất chiếc ghe vì đất lở. Đất lở ngoài vàm sẽ tạo hiện tượng nước trong các con lạch nhỏ bị hút ra, kéo theo ghe neo đậu trong lạch cũng bị hút theo. Nếu không phát hiện kịp ghe trôi ra sông lớn, mất luôn!
Gặp chổ vịnh, nước chảy yếu dì tư chèo, gặp chổ xoáy nước chảy mạnh không thể chèo được dì tư cặp bờ, leo lên ruộng dùng tay kéo ghe vượt qua! Nhẫn nại, chịu thương chịu khó một mình dì cũng tới chợ. Nhiều hôm nước ngoài ruộng ngập quá lưng quần, dì phải vừa bơi vừa kéo ghe rau muống khẳm đừ! Bán xong bơi xuồng ra sông Tiền thả trôi dòng nước đưa dì về xóm cũ. Nhiều hôm dì tư mệt mỏi ngủ thiếp đi, thuyền trôi tới phà Mỹ Thuận! Cách xa nhà dì cả chục cây số. Đời đã khổ lại càng khổ hơn!
Dì tư có bốn người con, ba trai một gái. Đứa nào dì cũng cực khổ lo cho ăn học. Anh con lớn của dì tư học dang dỡ đại học văn khoa Sài Gòn, về lấy vợ sớm. Gặp cô vợ quá quắt nên dì tư chửi suốt ngày. Đứa thứ hai là gái học trên Sài Gòn rồi lấy anh chồng hải quan gốc bắc kỳ. Anh thứ ba ra làm công thương nghiệp ở tận Hồng Ngự. Còn ở với dì là thằng Út, suốt ngày đi chơi bời lêu lỏng, bỏ học sớm, chả thấy phụ dì tư làm gì hết. Phần là dì tư có tật chửi con cái. Mỗi lần bả chửi mấy tiếng đồng hồ. Chửi con đã, rồi lôi chồng ra chửi. Nhiều đêm dì tư vừa lặt rau muống vừa chửi chồng con ra rả cả đêm. Có khi chửi đã dì ngủ luôn sáng bảnh mắt, quên cả lặt rau. Chuyến chợ đó coi như dành lại cho ngày hôm sau.
Dì tư có tật hay chửi hàng xóm vì chuyện không đâu. Chuyện tàu lá dừa nhà dì rụng xuống nhà bên bị người ta lấy mất làm lá nhúm lửa dì cũng chửi. Về nhà mất cái này cái kia dì nghi ngờ ai là cứ chõ mỏ sang nhà đó mà chửi. Ai nhột lên tiếng chửi lại. Thì ô hô, một trận chiến ngôn ngữ sử dụng linh vật được tung ra!
Dì chửi, nếu không ai phản ứng gì thì cuộc chửi kéo dài chừng tiếng đồng hồ. Chửi lại thì dì chửi tiếp, chửi khi nào khan tiếng thì thôi.
Dì tư không biết chữ nhưng được cái là thuộc rất nhiều ca dao tục ngữ nam bộ. Đêm miền quê yên ắng, một mình dì tư bên cái đèn trứng vịt, những đêm thanh bình không chửi chồng con, hàng xóm thì dì hát đối một mình. Có khi thì dì đọc thơ lục bát của đức Huỳnh giáo chủ. Ba của dì tư nghe nói là tín dồ của phật giáo Hoà Hảo nên nhờ vậy mà dì thuộc thơ của ổng rất nhiều!
Làm lụng cực khổ cả đời như thế mà dì tư sống thọ phết, bà chết nghe đâu cũng gần chín mươi tuổi mặc dù có thời kỳ dì mắc bệnh lao vì lao lực quá sức!
Cuộc đời dì quả thật ứng với câu nói bất hủ ” Con người sinh ra chỉ để đau khổ rồi chết!”. Dì sống với cả đời cực khổ, chồng thì bỏ, con cái vì ớn cái tánh hay chửi của dì nên chẳng dám đem dì về phụng dưỡng. Cuối đời có rỗi rãnh chút đỉnh…nhờ bệnh tật và cũng chẳng còn sức khoẻ để làm!