Dự phóng

Thành phố trầm mặt, nghĩa trang công viên buồn hiu hắt. Tiếng con chim sẻ lẻ bầy gọi đàn trong chiều mưa tầm tã. Thực ra người nghe cũng dự phóng tiếng gọi đàn của con chim sẻ tợ như tiếng gọi đàn con bé bỏng sau cơn cuồng phong vừa quét qua thành phố- ngôi nhà nhỏ nhoi của chúng bị thổi bay đi-cùng với đàn con mà mới sáng nay còn tíu tít há những chiếc mỏ rộng vành chờ con sâu nhỏ của mẹ. Cái hình ảnh dự phóng của chiều mưa buồn ấy cũng đủ khiến lòng nó dậy lên hoài niệm một chút hình ảnh nào đó trong quá khứ đã chết cùng với cái tương lai khả dĩ khi quá khứ ấy không xoay chiều theo gam màu xám u buồn?
Vài bóng người lẫn khuất trong hàng bia mộ. Xa xa tiếng chuông nhà thờ vang khúc kinh gọi hồn. Tiếng tụng niệm ê a chiêu hồn của mấy thầy tụng thấp thoáng đâu đó trong nghĩa trang.
Vài con chó cái gầy đét, hai hàng vú lõng thõng, bộ lông loang lổ vết chàm, lang thang nhặt nhạnh những mẫu bánh nhão nhoét ai đó bỏ lại.
Nó thẩn thờ ngồi nhìn làn khói mỏng manh bay lên từ những que nhang gầy guộc cắm nghiêng ngả trên nền đất sũng nước của ngôi mộ vừa được lấp đất. Vài cành hoa giần giật run run trong gió. Hàng chữ viết tên chàng cũng nhòe nhoẹt cùng giọt nước mắt tiếc thương của nó. Nó tự hỏi vì đâu con người chàng, gã trai hiền như đếm thế kia lại nhẫn tâm làm chuyện tội ác-phạm tội giết người-giết chính sinh mạng chàng.
Nó run run tự hỏi vì sao chàng yêu quá đời người này. chàng yêu quá những người thân yêu của chàng. Chàng yêu quá nó. yêu quá những con vật hiền lành chung quanh chàng. Yêu bản thân chàng là thế, mà vì môt phút nông nỗi-sự hững hờ của nó-chàng ra tay hạ sát chính sự sống của mình. Tội ác mà có lẽ còn có kiếp sau, luôn như một định mệnh ám ảnh truyền kiếp!?
Vậy phải chăng cái thứ tình yêu mà chàng thể hiện ra bề ngoài tâm hồn “rực sáng” ấy của chàng cũng chỉ là sự ẩn chứa của cái ác. Cái ác cam tâm hành hạ chính mình. Cái ác ra tay hạ thủ chính đời mình vì một dự phóng của tư tưởng chàng, của liên hệ trong tư duy hẹp hòi của chàng? Rằng “nó” là cái tất cả của đời chàng? Sự chiếm hữu nó bằng tinh yêu cao ngạo nhưnng không kém phần ích kỷ lại được ẩn danh bằng sự cao thượng? Bởi chàng chẳng mảy may bao giờ làm đau nó để chiếm hữu nó cho kỳ được trong suốt hành trình sống của chàng!? Cái hành trình sự sống ngắn ngủi nhưng dung chứa ở người đời là một tham vọng cực kỳ to lớn, tích lũy hàng triệu năm trong trầm tích sống của nhân loại.Tham vọng đó được nâng đỡ bằng giáo dục, bằng truyền thống, bằng lịch sử và bằng cả tế bào gia đình nhỏ nhoi của chàng!?
Nó biết trong mỗi con người chúng ta. Đặc biệt trong cuộc đời người nằm xuống chiều nay. Sự bức tử và làm đau chính cuộc đời mình là vì cái nghĩ ảo tưởng của tham vọng, về sở hữu mà lẽ ra nó phải thuộc về.
Khi chàng dự phóng về một điều còn chưa thuộc về chàng những hình ảnh hứa hẹn mà nếu chàng chiếm hữu nó sẽ mang lại cho chàng. Chàng liên tưởng cái hạnh phúc khi chàng vọng tưởng sẽ đẹp và dịu dàng biết mấy. Chàng mơ một giấc mơ vượt quá tầm với của năng lực giới hạn. Rồi trong hành động mơ đó chàng thỏa mãn mình đang sống, đang hưởng thụ. Đang được và đã được.
Hình ảnh của những dự phóng và liên tưởng đó liên tục xuất hiện, ngay cả khi chàng ngủ, thức, ăn uống và làm việc trong tâm trí chàng. Nó ám ảnh chàng về một điều khó mà chấp nhận cái sự thật phủ phàng rằng chàng đã mất nó ngay khi khởi đầu tiếp cận. Chính vì không chấp nhận cái sự thật thậm phi lý ken dầy trong não chàng nên chàng tự dằn vặt mình. Chàng cảm thấy cuộc đời của mình vô nghĩa biết bao nếu như chàng không có nó.
Mọi hình thái và màu sắc cuộc sống vốn luôn tươi mới xung quanh chàng giờ chỉ còn là một màu xám xịt, buồn nôn. Những lúc vui sống và năng động của bản thân trước đây giờ chỉ là một nhịp điệu buồn tẻ chán chường, bởi khi chàng mơ màng và dự phóng chàng đang sống không phải như cái chàng vốn có mà là sống dựa trên cái ảo tưởng sẽ có, dựa trên một chất kích thích khoái lạc.
Liên tưởng những hình ảnh có thật, đẹp đẽ trong quá khứ làm chàng tiếc nuối và đau buồn khôn nguôi.
Vòng lẩn quẩn đau khổ, tiếc nuối, tuyệt vọng,…lần hồi sẽ biến chàng thành kẻ vô tri và trầm uất. Tự chàng nhìn thấy sự tồn tại của chính chàng thành vô nghĩa.
Kẻ bạo tàn hơn sẽ giận dữ vì mất mát. Dĩ nhiên hành xử để cưỡng và chiếm luôn ưu tiên trong hành động, với chúng hành động chiếm hữu bằng bạo lực, cưỡng đoạt tình yêu, sự sợ hãi phục tùng luôn có cùng một thứ giá trị. Chẳng may cá nhân hay một nhóm nào đó từ chối và chống lại bạo quyền này sẽ được nhận được tương ứng sự tàn bạo của kẻ tham vọng độc tài!
Cái tất yếu kỳ vọng chỉ có duy nhất ấy là niềm đau khôn tả mà tiếc thay đã biến sự sống của chàng thành vô nghĩa. Chàng không cảm nhận sự sống của mình là một ân phúc của bản thân. Thay vào đó chàng đặt ra mục tiêu sống của mình là sự chiếm hữu cái vô hình như là một lẽ sống. Chính sự mụ mị của giới hạn trí não cùn lục đó đã khiến chàng ngu muội tự hủy hoại đời mình.
Khóc thương cho chàng vài giọt nước mắt vốn đã thừa mứa trong chiều mưa hôm nay tợ như đem muối bỏ biển. Thời gian rồi sẽ biến mọi thứ thành quên lãng. Nấm mồ chết trẻ vì cuồng yêu của chàng cũng sẽ rậm rì đám cỏ xanh. Tấm bia đá ghi tên chàng sẽ ngã đổ vì thời gian. Mai này có khi lạc bước vào chốn cũ, hẳn nó sẽ chẳng còn nhận ra nơi chốn chàng đã từng yên nghỉ. Người thân quanh chàng rồi sẽ lãng quên vì bao thứ hiện thực từ cuộc sống. Duy chỉ có cái chết của chàng là ngưng dứt mọi thứ, ngưng dứt tham vọng, ngưng dứt khổ đau,….của chính chàng!
Posted in Uncategorized | Tagged | Để lại bình luận

Chống ai cũng thắng, riêng chống “ta” có thua!!!?

Hồi xưa “chống” Pháp “chống” Mỹ mấy cụ nhà mình cũng đấu tranh này nọ trong tù rồi tuyệt thực. Ví như cụ Vĩnh, cụ Chênh, cụ Tố Hữu nhà thơ ở nhà tù lao Bảo thập niên 40 hồi cái đận chống Tây đội Hoa , đội Liên. Cơ khổ cái dân Việt ni. Chống mà không đội một ai vào thay có nước mà ăn mày, bởi có lực có tài quái chi mà chống với đỡ. Xuôi cho cái, đội ai nhè đi đội thằng Hoa là đời đen như mỗm chó, tiền đồ sáng lạng như đít chảo…đun củi ướt, ám đầy mụi than. Thành đen càng đen tợn.
Thời buổi này nói chuyện đội Hoa của ta khi xưa chống Tây, chống Mỹ cần gì chứng minh. Coi cách ứng xử với bọn cướp Tàu cũng đủ hiểu. Nợ đầm đìa ra đó. Hôm thì đang ngủ với vợ nó sang đòi hiếp cũng nhịn. Bữa thì con mình đang bơi trong ao nhà nó đuổi để cho con nó một mình một ao cũng im thin thít. Xây dựng cơ nghiệp chưa xong nó đòi nợ ngay cái cù lao Hoàng phố cũng chả dám nói gì. Thậm thụt viết công hàm trao luôn!
Vay chi vay của đám ma cô nặng lãi, trả cả đời cũng không hết.
Hồi nớ cụ Tố nhà ni tuyệt thực mới có năm sáu ngày đòi cải thiện chế độ lao tù bọn tây nó đáp ứng ngay. Chứ nếu không, kéo dài như bác CHHV thời nay hổng chừng có bài thơ ẩm thực về cách ăn cá chột nưa hay đã xanh cỏ từ lâu rồi. Có còn đâu bài thơ với thẩn lưu cho hậu thế học và phân tích mệt bỏ bu!
Sở dĩ mà không kéo dài được như bác CHHV là vì thời chống tây thể tạng mấy bác ốm lòi xương nên nhịn đói quá tuần, chết chắc. Ngẫm bọn tây ác như văn học nô tỳ mô tả thế kia mà cũng còn nhân đạo chán!?
Bây giờ kháng chiến chống Pháp, Chống Mỹ “thành công một chân”, quay ra ác với dân còn hơn cả bọ thực dân cũ mới cộng lại. Sở dĩ nói thành công một chân là vì trong tư thế chống cái chi cũng phải có chân trước chân sau thì thế chống nó mới mạnh. Xui là nhè chống chân sau lại dựa vào vũng lầy thằng Tàu nên bây giờ chân sau còn kẹt mãi rút không ra.
Tụi Tàu vốn tính tình thật thà, thấy mấy tay vinh quang nhà mình thò một chân sang nó lấy xích khóa lại luôn, thậm chí cả đổ bê tông để chôn chân vĩnh viễn, nên bây giờ nói năng chi cũng phải kín tiếng, dòm rước ngó sau. Kẻo nó nổi đóa đòi cưa chân.
Có thời tưởng đã rút được chân về nhưng rồi nghèo đói lại thích chơi ngông, làm ít ăn nhiều, vừa làm vừa phá. Càng làm càng nghèo nên tiếp tục quay lại thò một chân sang Tàu tìm chỗ trụ mà chống tiếp.
Chuyện này ai cũng thấy nhưng chẳng ai dám nói, Bác Vũ dám, thậm chí còn kiện cái tay thò chân sang Tàu.
Chúng bắt bác vì cái tội phá hoại tình hữu nghị Việt-Tàu, chỏ mỏ vào việc riêng của chúng. Bỏ tù bác, đối xử nhẫn tâm với bác. Bác phản dối chúng bằng tuyệt thực đòi cải thiện lao tù, đòi quyền con người,…
Rút kinh nghiệm cái “hèn” của Tây, Mỹ chúng làm ngơ và chờ bác thua, hoặc chỉ có chết. Hơn 20 ngày trôi qua bác đã không ăn gì, chỉ uống nước lã cầm hơi!
Không biết liệu bác còn cầm cự bao lâu. Liệu chúng ta còn có một tia hy vọng nào đó từ lòng nhân đạo của Đảng ta, nhà nước ta của dân do dân và vì dân, dẫu đó là một người dân không yêu cái mà Đảng đang yêu!?
Đức phật Thích Ca hồi xưa trong con đường đi tìm sự giải thoát ngài cũng tìm đến tuyệt thực như là một chân lý giải thoát nhưng thất bại. Khi một người đàn bà đi ngang nhìn thấy thân thể tiều tụy của ngài sắp chết. Bà đỡ ngài dậy và cho ngài uống sữa dê. Từ đó ngài ngộ ra chỉ có sự sống mới có cơ hội để tìm thấy chân lý giác ngộ.
Ngày nay CHHV đang đối diện với cái ác và người đã ngộ ra chỉ có tuyệt thực và ý chí bất khuất mới làm cho cái ác sụp đỗ dù cho sinh mạng của người còn hay mất!

Posted in Uncategorized | Tagged | Để lại bình luận

Tuồng tích yêu của gã khốn!

Ngày càng nhiều có những gã có tuồng tích yêu điên khùng bị đem ra xử công khai trước bàn dân thiên hạ. Nhẹ thì cũng vài chục năm tù. Nặng hơn thì chung thân khổ sai, hoặc án tử hình. Cứ mỗi lần những gã khốn ấy ra tòa báo chí có dịp tung đám phóng viên viết bài đăng báo vào cuộc phân tích mỗ xẻ về cái sự khốn ấy. Báo lá khoai thì khai thác ở khía cạnh ly kỳ và tàn bạo của vụ án đến từng ngóc ngách nhỏ nhất của sự kiện. Nói chung là miễn càng ly kỳ, rùng rợn giật gân càng nhiều càng tốt, miễn sao câu view, câu khách thu quảng cáo, bán được nhiều báo là ổn. Đám báo tự nhận mình lớp chiếu trên thì phân tích động cơ nào đó thuộc về tâm lý rồi kết luận đưa ra báo chí để nhằm cảnh cáo, răn đe,..Thậm chí lấy đó, những phát hiện từ bên trong nội tại của vụ án như là một bài học kinh nghiệm khiến cho ai còn có ý định hành xử tương tự phải đắn đo!
Tuy nhiên trên tất cả cái gọi là phát hiện và các chi tiết ly kỳ đó những hành động yêu và muốn sở hữu đối tượng yêu bằng mọi giá cứ mỗi ngày mỗi nhiều lên mà không có bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy có dấu hiệu giảm xuống. Nó tương tự như câu chuyện giảm tai nạn giao thông của tay Thăng. Chủ trương quyết liệt chống tham nhũng. Càng đề ra nhiều biện pháp, giải pháp nhiều chừng nào thì số vụ việc tham nhũng và người chết lại càng tăng tương ứng chừng đó!?
Vậy liệu còn có câu hỏi thú vị khả dĩ nào cần đặt ra cho câu chuyện những kẻ yêu hành xử mất cả chì lẫn chài thế kia? Liệu còn có khía cạnh tâm lý nào mà chúng lám cái chuyện thất nhân tâm là thế? Có hay không thần tượng nào mê hoặc, bao trùm và phủ bóng ảnh hưởng lên nhân cách người đời hết sức mạnh mẽ những kẻ bất học hay hữu học chi cũng bất tri kỳ lạ?
Đến đây người ta cũng tự hỏi phải chi những chuyện đại khái như vậy chỉ xảy ra ở nhóm người thất học? Tất nhiên là không phải thế rồi!
Thực tế cho thấy tình yêu bất khả tri ấy đã và đang hiện diện trong mắt những kẻ bất khả tri nhưng có cái thấy của lòng tham vô độ.
Điều đáng sợ của chúng là được sự trợ giúp của bạo lực. yêu hay là chết.
Những gã yêu bất khả tri nhưng có sự trợ giúp của bạo lực ấy đang yêu một tình yêu bóng đỗ suốt máy chục năm qua. Cảm hứng tình yêu đó được truyền dụ qua nhiều thế hệ học tập bằng con đường chỉ có tin và không nghi vấn.
Từ đó tạo dựng một thế hệ những con người hành xử dựa trên lòng tham và ý muốn chiếm hữu bằng mọi giá. Xem những giả định và luận lý, bài toán của kẻ quyền lực là đúng bất chấp mọi nghiệm thức giải, mọi minh chứng thực nghiệm đúng.
Trên hết mọi điều khiến kẻ ác không sợ cái ác là vì kẻ ác ở tốp trên chưa bao giờ phải trải qua sự trừng phạt, cho dẫu là trừng phạt bằng công cụ pháp lý hay sự trừng phạt của lương tâm!?
Tiếc thay ngày còn có quá ít những kẻ thấy nhưng dám chỉ trích, những kẻ chỉ trích nhưng không thấy,..bởi chỉ vì quá sợ hãi bạo lực của chúng. Sự sợ hãi khiến chúng ta tạo dựng riêng cho mình một hành lang để đi và yên ngủ khi dùng ngôn ngữ. Chúng ta hài lòng vì cách kiếm sống ấy. Yên ổn khi nhìn gia đình chúng ta hạnh phúc trong tạm bợ và chẳng thể nào biết điều bất hạnh tất yếu gì sẽ nhào vào chỗ những người thân yêu của chúng ta trong tương lai?
Sự sợ hãi vì kiếm cơm khiến chúng ta làm cho kẻ ác ngày càng thỏa mãn vì đắc chí, đồng thời giúp cho xã hội vốn tàn tệ này ngày càng tàn tệ hơn bởi vì càng nhiều cái ác nảy sinh do sự sợ hãi nuôi dưỡng chúng!
Ngày nào còn nhũng kẻ yêu bằng công cụ hỗ trợ của bạo lực và bất khả tri tồn tại thì ngày ấy còn đó những kẻ yêu cuồng. Kẻ yêu cuồng chỉ muốn đối tương bị yêu ngoan ngoãn đi theo và phục tùng chúng vô điều kiện.
Bởi thực tế cho thấy chẳng có một điều luật nào kìm cương chúng ngoài con tim đầy tham vọng. Bất hạnh thay cho chúng ta những kẻ ác to đầu ấy vẫn còn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Thứ pháp luật do chính chúng vẽ ra và làm sợi dây trói buộc những ai dám can đảm từ chối thỏa mãn tham vọng yêu điên khùng của chúng!
Tòa án của chúng hôm nay xử chung thân một người vì cái chết của một người. Nhưng đồng thời cái tòa án khốn kiếp của những tay thẩm phán dùng ma túy ấy cũng đã xử chúng ta chung thân khổ sai- những đối tượng được yêu vì cuồng yêu của một nhóm người muốn nhưng có trong tay khẩu súng của bạo quyền.

Posted in Uncategorized | Để lại bình luận

Alibaba Việt Nam.

Hồi nhỏ đọc mấy câu chuyện kể về tên trộm thành Bagda trong tập truyện 1001 đêm mà cứ thích chí mãi. Rồi sau này có thêm tác phẩm kể về Robinhood kẻ cướp rừng xanh. Câu chuyện nghĩa hiệp kể về một tay cướp chuyên đi cướp của các tay địa chủ, các nhà giàu có, quan lại trong vùng chia lại cho dân nghèo. Những hành động nghĩa hiệp này khơi nguồn cảm hứng cho các cuộc cách mạng tay không bắt giặc tào lao trên toàn thế giới. Các cuộc cách mạng đó nói chung cũng giương cao ngọn cờ nghĩa hiệp đại khái như Robinhood, hứa hẹn đủ điều,…Khổ nỗi khi cướp đuợc chính quyền giành tài sản phong kiến, tư bản,…và quyền lực về tay chính quyền “nhân dân” rồi thì những tay đĩ bợm ấy thay vì chia tất cho đám dân nghèo theo ủng hộ họ, nay lại tập trung trong tay các vị đại diện của nhân dân.
Thực ra các tay đĩ bợm thoạt đầu chẳng nghĩ mình sẽ ham hố là thế, nhưng dần dà cái mà mấy tay đĩ bợm này ngộ ra chính là quyền lực. Ngộ rằng sở dĩ các tay vua chúa, quan lại giàu có là nhờ có quyền lực, ơn mưa móc,… trong tay.
“Từ ấy trong tim bừng nắng hạ. Chân lý đồng tiền ám con tim”. Những tay đĩ bợm ngộ ra cái sự sướng của giàu sang phú quý có một hấp lực ghê gớm. Hấp lực mạnh đến nỗi khiến chúng cũng như những đồng liêu một thời chết dưới tay chúng chỉ có cái chết mới có thể vĩnh viễn chia lìa các đĩ bợm với tình yêu quyền lực mà thôi!
Rồi từ đó phận khố rách áo ôm thuở nào trở thành những trọc phú quan chức. Chuyện quan chức, lãnh đạo trở thành những tay giàu có mà một thời dưới mắt các đĩ bợm là kẻ thù của nhân dân lại là tấm gương phản chiếu ngược vào số phận của chúng.
Các vị quan công bộc của hậu cách mạng tay không bắt giặc tào lao trên toàn thế giới còn lại rải rác đây đó lại là những tay giàu sụ. Chúng giàu có đến nỗi tiền muôn vạn ức. Giàu mà không ai có thể thống kê được tài sản của chúng. Con cái du học toàn những nước mà trong mắt chúng là kẻ thù bất khả dung của một thời.
Sự thành công và an toàn quyền lực của các đĩ bợm là nhờ chúng rút tỉa được kinh nghiệm để tồn tại.
Cái sự giàu mà ai cũng biết ấy nhưng chẳng ai biết lại trở thành mục tiêu cho Alibaba Việt Nam và đồng thời là câu thần chú mà vô tình chàng đã nghe thấy khi bọn cướp cất giấu tài sản.
Chàng vốn là một người xứ nẫu. Trong mắt chàng tài sản của những vị quan là tài sản của những tên cướp, thành ra cái chuyện chàng hóa thân thành Alibaba để trộm lại đồ cướp của kẻ cướp chỉ là chuyện đúng đắn mà Alibaba thuở xưa đã làm và được toàn nhân loại tụng ca!
Chàng cũng rứa. Chàng muốn lưu danh hậu thế và chàng đã thành công 36 vụ. Tương đương mỗi vụ là một tên cướp trong mắt chàng. Vị chi có 36 tên cướp đã bị chàng “Vừng ơi mở cửa ra” thành công.
Vốn là một anh nông dân thứ thiệt. Số tài sản trộm cướp được cũng được chàng phân phối và chia chác cho đám dân nghèo là…. cha mệ chàng, gia đình chàng và bố mẹ vợ chàng. số còn lại chàng tiêu hết không rõ vào việc chi, có lẽ chàng Alibaba Việt Nam đi làm từ thiện hát ả đào!?
Chàng định sẽ lập lại thành công kỷ lục cũ của Alibaba ngày xưa hay thậm chí vượt xa kỷ lục cũ xì ấy. Tiếc thay vào một đêm mưa gió tối trời đám tay chân của 36 tên cướp đã tó chàng đang lúc chàng đọc câu thần chú nhập động và vì thế câu chuyện li kỳ của chàng biến thành Alibaba và 36 tên cướp Việt Nam.
Ngày chàng bị truy tố trước tòa, người ta không thấy một ai trong đám 36 tên cướp nạn nhân của chàng chường mặt ra tố khổ chàng.
Mặc cho phiên tòa không nạn nhân, các vị cầm cân nảy mực cũng quyết xử chàng Alibaba Việt Nam tù chung thân khổ sai. Chung quy bọn chúng sợ xử tù có thời hạn, rồi một ngày nào đó khi ra tù chàng lại hóa thân thành Alibaba và con số nạn nhân của chàng sẽ dài ra mãi.
Ngục tù cả đời chàng âu là để cho các tên cướp của chàng không còn phải mất ăn mất ngủ vì chàng. Cái mà chúng sợ không phải là mất của cải do chúng ăn cướp được mà có. Bởi với chúng chuyện cướp bóc dựa trên quyền lực chỉ là điều tất yếu của kẻ lạm quyền. Cái mà những tên cướp ngày sợ chính là hành động của Alibaba sẽ làm phơi mặt chúng ra công luận vì cái sự cướp này quá ư là bỉ ổi. Làm phá sản đi mặt nạ liêm khiết, và cái sự mị mà bọn chúng đã dầy công khổ luyện trên chốn giang hồ!
Xứ nẫu quê chàng vốn lừng danh với những câu chuyện huyền thoại. Từ chuyện Alibaba bất bại, đến chuyện hiệp sĩ giác đấu rừng xanh bẻ nạng chống trời,…thời gian rồi sẽ tiếp tục sản sinh ra nhiều nhều nữa những Alibaba tài năng khác. Cho dẫu giờ này chàng Alibaba của chúng ta đang ngồi bóc lịch trong tù, hay hiệp sĩ giác đấu mất hoàn toàn công lực khi rời xa chốn rừng xanh quê hương của chàng!

Posted in Uncategorized | Để lại bình luận

Sàm yêu.

Ngoài trời mưa khuya bóng đêm phủ dầy đặc. Tiếng mưa cứ rơi gõ nhịp đều trên mái ngói. Xa xa hoài vọng tiếng côn trùng nỉ non,…Đêm nay trời trở lạnh lạ lùng. Cái lạnh phương bắc đến từ cõi hư vô, từ sự cô đơn như dấu hiệu báo trước buổi chia ly của mối tình đầu vốn đầy đam mê nhưng trắc trở giữa tôi và nàng. Nàng không đẹp như giấc mơ của tôi thời “dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa”, nhưng nàng đầy đam mê và quyến rũ lạ kỳ. Tôi yêu nàng vì bởi nàng là người tình đầu tiên ngõ lời yêu khi tôi lên tiếng. Tôi yêu nàng vì nàng mụ mị trong từng nụ hôn đắm say kỳ diệu. Nụ hôn đĩ thỏa đẫm trong dục vọng đầu đời. Tất cả với nàng và tôi chỉ có thế.
Chợt từ cái thinh không tĩnh mịch của đêm đen huyền diệu ấy dậy lên tiếng sấm rền. Tiếng sấm như tiếng thét từ trái tim của nàng. Trái tim yêu đây nghiệt ngã và định kiến ngục tù. Bất chợt nàng ôm chặt tôi vào lòng thổn thức. Rồi nàng lên tiếng:
-Anh có yêu em không? Bằng tất cả sự cuồng nhiệt của dục tính đàn ông và lòng trung thành vô điều kiện trong cõi mê. Tôi đê mê đáp lời nàng:
-Em là người tình đầu trong đời anh. Trong trái tim phiền muộn, héo khô của thằng nhóc trẻ, tình em như thể một suối nguồn vĩnh hằng làm tươi tắn vùng đất sa mạc linh hồn anh. Anh yêu em còn hơn bất cứ cái gì trên cõi ô trọc này! Yêu hơn cả cái mạng của mình.
Tiếp nối dông bão của cơn cuồng yêu cho câu đáp trả mang màu sắc liêu trái của tôi là hàng loạt nụ hôn dục vọng đàn bà tưới đẫm thân người tôi. Nàng ướm đôi môi diễm lệ lên mắt tôi, lên môi tôi,lên trán tôi và bất cứ đâu có thể trên thân tôi đầy mê đắm lửa tam muội.
Dường như chưa thỏa mãn với câu trả lời của thằng ngu là tôi đó. Nàng lại đều đều vang lên điệp khúc cầu hồn trói buộc linh hồn tôi vào trong tham vọng yêu đương của nàng. Anh có yêu em nhiều không, anh có chắc rằng anh yêu em nhiều hơn hết thảy mọi thứ xấu xa và đẹp nhất trên cõi trần này không?
Bằng hỗn mang kỳ lạ của ý thức chết lịm trong hồ yêu. Tôi như con rối chết vì hạnh phúc ảo tưởng của tình yêu đáp trả nàng:
-Thế em còn thấy anh đã còn có chút lý trí nào khác hiện hữu khi đã ngã vào vòng tay của em chưa? Cái vòng tay vừa nhẹ nhưng lại có một sức mạnh vô hình trói buộc còn hơn cả cái vòng kim cô chết tiệt trên đầu gã Tôn Ngộ Không!
Đêm mưa thu rả rích tối nay có lẽ là đêm mưa đầu tiên  và cuối cùng dài nhất trong đời tôi và nàng, bởi hàng loạt câu hỏi dồn dập rằng tôi có yêu nàng không. Với nàng câu hỏi ấy có sức cuốn hút và đam mê kỳ lạ. Nó vừa là vật bảo chứng cho tình yêu của nàng vừa để bảo đảm rằng tình yêu tôi dành cho nàng chỉ là một tình yêu không lý trí và được bảo hành bằng bạo lực của ngục tù dục vọng, cứ vang nhịp hòa cùng tiếng gõ hạt mưa trên mái ngói. Tạo thành hình âm thanh của tiếng khóc yếu đuối lịm dần của đứa bé chào đời bất hạnh bị ai đó bỏ rơi ngoài ngõ vắng!?
Sau khi đã thỏa mãn dục vọng thể xác cùng nàng trong mê man bất tận. Bất chợt nàng thủ thỉ một câu chuyện điển tích về lòng hiếu thảo của người xưa. Chuyện kể rằng:
Trong thập nhị tứ hiếu Tàu có câu chuyện lưu truyền “Nếm phân lo âu”. Chuyện xưa kể rằng trong thời nam bắc triều, Nam Tề có một người con chí hiếu tên là Kiềm Lâu. Ông được bổ nhiệm làm tri phủ đại nhân và tới huyện nha nhậm chức vừa mới được mười hôm, bỗng nhiên thấy trong lòng đau nhói, tâm thần bàng hoàng. Ông linh cảm ở nhà ắt có việc gì xảy ra, nên liền xin từ chức để trở về thăm cha mẹ. Về đến nhà, mới hay cha già bị đau nặng đã hai ngày rồi. Kiềm Lâu nghe thầy thuốc nói là: “Muốn biết bệnh nặng hay nhẹ, chỉ cần nếm phân của bệnh nhân, nếu như đắng thì dễ trị.” Ông không ngần ngại, liền nếm thử phân của cha thì thấy có vị ngọt, lòng lo lắng vô cùng, đứng ngồi không yên. Mỗi khi đêm đến, ông hướng về sao Bắc Đẩu mà khấn nguyện xin chết thay. Về sau ông nằm mơ thấy có người cầm một thẻ vàng với mấy dòng chữ: “Sắc trời ban bình an.” Quả nhiên ngày hôm sau, cha ông được lành bệnh.
Sau khi nghe nàng kể xong câu chuyện, tôi mới lên tiếng hỏi nàng:
-Chuyện yêu đương trai gái tụi mình, mắc mớ gì em kể chuyện thập nhị tứ hiếu vào đây?
Như thể chờ cho tôi lên tiếng thắc mắc với câu hỏi ngu ngốc trong câu chuyện đầy hàm ý nghiệt ngã của nàng. Bất chợt nàng vùng dậy, ngồi lõa thể đàn bà trước mắt tôi. Nàng nhìn tôi bằng ánh nhìn lạnh lẽo xa vời. Cái nhìn như thấu đáo sự hèn hạ và đầy lo âu trong tôi, tợ như cái gã Kiềm Lâu thổ tả nào đó đã từng dại dột nghe gã lang băm vườn nếm phân của cha hắn. Mà nghĩ cũng lạ và vô lý, tay Kiềm Lâu hồi nào giờ có nếm cứt người mô mà biết phân đắng, phân ngọt? Rõ là lẩn thẩn ba cái chuyện “Tàu” lao.
-Anh yêu à, ở đời không có lửa thì làm sao có khói phải không anh? Nàng bất chợt lên tiếng. Câu chuyện nếm phân của Kiềm Lâu là xuất từ tình yêu có phải vậy không anh? Chỉ có tình yêu thương mãnh liệt, một tình yêu không vụ lợi và phục tùng vô điều kiện,…nên Kiềm Lâu mới nghe lời thầy lang can đảm nếm phân cha của mình!
Nghe nàng nói đến đây, tôi lờ mờ nhận ra hàm ý đắng cay câu chuyện quái gở mà nàng vừa kể! Rồi nàng tiếp: Chỉ có một tình yêu chân thành con người mới dám vượt những trở ngại tưởng chừng không thể thành điều có thể chàng ạ!
Bất chợt nàng nhìn thẳng váo mắt tôi, đôi mắt nàng mới dễ sợ làm sao! Anh có yêu em thật lòng như những gì anh đã nói không? Tôi đáp, đêm nay đã không biết lần thứ mấy em hỏi anh câu này. Và lần nào câu trả lời ra sao em điều biết mà. Vì sao em cứ lập lại câu hỏi mà em luôn biết câu trả lời chân thành từ phía anh!
Sau khi nhìn khắp lượt cái thằng rúm ró là người tôi, nàng từ tốn lên tiếng. Em biết mình không phải là con người hoàn hảo trong mắt anh, Em vẫn còn những điều tồi tệ trong mắt anh. Nhưng vì lòng chân thành, sự đam mê dục vọng và tình yêu không lý trí,… anh đã yêu em tất thảy mọi thứ. Em chỉ băn khoăn, liệu anh đã thực sự yêu hết những điều xấu xa tồi tệ của em không? Anh này:
-Kiềm lâu quả thật là con người cao cả và không lý trí. Ông ấy đã không ngần ngại nếm phấn cha mình chỉ để vọng tưởng rằng qua đó ông ấy sẽ giúp lão thầy lang định bệnh cho cha mình. Em chưa từng phải bệnh như cha của 
Kiềm Lâu. Nhưng điều em thật sự muốn thấy là anh có dám….nếm phân của em như cái lão Kiềm Lâu đó không? Nếu anh thât sự yêu em nhiều như anh “nói”, nhiều như đam mê của anh,…Anh phải chứng tỏ lòng thành và phi lý trí của mình qua cách nếm phân của em?

Mặc cho nhiều lần giải thích, phân tích mọi lý lẽ đúng sai của câu chuyện phi lý và thiếu căn cứ khoa học trên. Nàng vẫn cương quyết rằng chỉ có can đảm nếm phân thì tôi mới thể hiện được lòng thủy chung và tình yêu của mình.

Cuối cùng bằng tất cả sự can đảm, tôi gào lên. Cái thứ tình yêu phục tùng vô lý ấy chỉ có lũ chó may ra mới đủ bản năng nếm phân và yêu phân của em mà thôi. 

Từ dạo ấy tôi và nàng chia tay. Thế chỗ vào tình yêu nồng nàn và đam mê của tôi ngày xưa bây giờ nhà nàng là một lũ chó. Chúng ngày ngày nếm và xơi cái thứ mà nàng bắt tôi nếm. Duy có điều lũ chó vì nếm và xơi thường xuyên thứ đó, nên hơi thở và tiếng sủa của chúng cũng nặng mùi chẳng kém cái thứ nàng thải ra.  

 

Posted in Uncategorized | Để lại bình luận

Luật nhân quả hiện đại.

Một chiều thu quạnh quẻ, nơi một ngọn đồi trông ra thung lũng Ngàn Mây. Ngọn đồi nơi tọa lạc một ngôi chùa cũ kỹ cùng tên buồn hiu quạnh. Bổng chiều nay vang tiềng chuông báo hiệu buổi thuyết pháp kỳ lạ. Thường ngày như mọi ngày vị sư trụ trì chùa già khọm chỉ thuyết pháp cho đám nông dân quanh làng. Nhưng hôm nay ngài có buổi thuyết pháp cho đám phật tử cao cấp. Điều kỳ lạ là chỉ có đám quan tai to mặt lớn, cùng với các nường phu nhơn sang trọng bóng lẫy thơm lừng cũng của các cụ nột, dự thính buổi thuyết pháp này. Một vài bà lão nông quê mùa muốn đi cầu kinh cho buổi tối cũng bị từ chối được phép tham dự.
Buổi thuyết pháp chiều mưa hôm nay của sư cụ bàn về thuyết nhân quả nhà phật. Cái thứ thuyết chết tiệt mà đám nông dân vô cùng kính cẩn khi ngộ thuyết. Thay vì làm cái chuyện bẻ trộm quả bí ngô thì đố ai dám vì quả báo mất con bò chẳng hạn. Cái thuyết nớ sư cụ cũng giảng giải vô cùng đơn sơ. Nó tợ như các con làm chuyện bậy bạ bằng vay nặng lãi khủng của ngân hàng nhà nước trước đây hay gái giang hồ vay cho son phấn, tiêu vặt của đám giang hồ ma cô! Được cái lũ nông dân nghèo nghe chuyện này ai cũng vả mồ hôi mẹ mồ hôi con tuôg tuông ào ạt, mới khiếp làm sao!?
Vì là các quan to đùng, đảm các chức quan trọng lo cho đám thảo dân hiền lam lũ, nên bài giảng của sư cụ về nhân quả lại liên quan đến lão quan thuế vụ. Sau khi nhìn khắp qua một lượt các quan đầu hói, mặt mày bóng nhảy vì ẩm thực bổng lộc của dân. Sư cụ vội nhìn xuống chiếc áo nâu sòng vàng ệch của mình loang lổ vệt mồ hôi thời gian, Lòng sư cụ có chút nôn nao bối rối vì cái sự khiếm nhã của mình! Ngài tằng hắn với giọng đều đều nhập môn bài giảng.
“Chuyện xưa kể rằng có một vị quan thuế vụ nọ vốn tính tình tham lam độc ác. Hắn luôn tìm đủ mọi cách để lấy được nhiều tiền bạc từ những người nông dân đến nộp thuế cho hắn… Một hôm có một bác nông dân đến xin khất hắn sang lần khác nộp tiền vì trong nhà bác không còn đến một hột gạo mà ăn. Bác năn nỉ đến gẫy lưỡi hắn mới chấp nhận.
Bác nông dân ra về nhưng vô ý đánh rơi một đồng tiền vàng, nhiều gấp bao nhiêu lần số tiền bác phải nộp thuế. Hắn nhìn thấy bèn lấy chân dẫm lên và tự nhủ:“Cho mày chết, có tiền không chịu nộp thì ông lấy hết”. Bác nông dân ra khỏi cửa thấy mất tiền liền quay lại hỏi. Hắn nói: “Mày mà cũng có tiền để rơi ở cửa quan à? Thôi xéo đi cho khuất mắt”. Bác nông dân cố nài nỉ: “Đó là tiền người ta nhờ tôi mua thuốc, ông có nhặt được làm ơn cho tôi xin”. “Ta mà thèm sờ vào đồng tiền bẩn thỉu của nhà ngươi à? Thôi cút ngay”. Bác nông dân không biết làm thế nào đành lủi thủi ra về…

Trời lũ lụt mất ba hôm, tên thu thuế không về nhà được đành phải ở lại nơi làm việc. Khi trời quang mây tạnh, hắn quay về nhà và thấy vợ hốc hác, đầu bù tóc rối. Nhà cửa lung tung, lộn xộn. Hắn rất ngạc nhiên và hỏi vợ: “Con đâu, mình?”. Vợ hắn trả lời: “Con chết rồi”. Hắn hét lên: “Chết rồi, tại sao nó chết, ôi đứa con trai bé bỏng yêu quý của ta, tại sao nó chết?”. Vợ hắn đau khổ trả lời: “Trước khi bão lũ, con mình bị ốm, em đã nhờ bác hàng xóm đi mua thuốc hộ. Em biết bác ấy không ưa anh nên dặn với vợ bác ấy đừng bảo là em nhờ. Nhưng không hiểu sao, bác ấy bảo rằng, bác ấy đánh mất tiền ở chỗ làm việc của anh. Sau đó bão lũ quá, em không thể mua thuốc cho con, nó ốm nặng quá và đã chết…”
Hắn đứng như trời trồng, mặt xanh mét không nói được câu nào…
Nghe xong câu chuyện nhân quả động trời ấy. Các quan mặt mày biến sắc. Thần thái lão nào trông cũng nhợt nhạt, đầy lo lắng ưu tư. Riêng các nường phu nhơn của các quan lo lắng bội phần,…
Trong lòng các lão quan ông và quan bà dự buổi thính giảng ấy đều có chung một nỗi sợ về luật nhân quả. Tự chiếu rọi thấy bàn tay gây nhân của mình tay nào cũng nhúng chàm quá sâu.
Đợi cho đám thính giả bình tâm sư cụ mới lên tiếng:
-Luật nhân quả của nhà phật luôn bình đẳng với mọi người. Bất kỳ ai, dù là anh nông dân ở đáy xã hội hay các vị quan chức tai to mặt nhớn. Tuy chỉ có điều là ai biết ăn năn, hối cải sớm trong lúc gây ra nhân thì sẽ được chiếu cố xem xét của Bồ Tát. Thậm chí nếu biết cách có thể hóa giải được tất thảy mọi tội lỗi!?
Nghe xong câu hóa giải gợi mở của sư cụ, các quan trong lòng khấp khởi hy vọng. Ai cũng nhao nhao tranh nói:
-Chúng con đây quả thật thưa thầy cũng gây lắm nhân tốt xấu lẫn lộn. Nhân tốt đếm mãi chẳng hết bàn tay. Còn nhân xấu e rằng đếm cả đời cũng chả hết. Chi bằng sư cụ chỉ cho một liệu pháp hành tâm mà hóa giải cho lũ chúng con đây!?
Hớp vội một ngụm nụ vối ủ đã mười ngày chua lét, ngài thủng thẳng đáp: “Cái tay quan thuế trên sở dĩ “hưởng” quả liền tay là vì trước giờ chỉ biết ăn mà không ị! Các con đây chắc cũng rứa. Chi bằng chia sẻ lại cửa thiền chút của rơi của rớt, để ta liệu mà tìm cách nói hộ cho với đức từ bi! Ngày xưa Phật từ bỏ chốn giàu sang để đi tìm giác ngộ và giải thoát. Giải thoát phải chăng là ước mơ của con người tìm một hạnh phúc vững bền thoát khỏi mọi ưu phiền. Chính vì lẽ đó chốn thiền môn càng to, rộng và hoành tráng chừng nào thì phật càng ưu ái ngụ cư.
Nay ta khuyên các con mở rộng hầu bao, mời thầy, mướn thợ. xem phong thủy, mời các vị cao tăng khắp chốn về xây chùa cho thiệt hoành tráng vào,…Chỉ có thế mới hy vọng luật nhân quả không hiển linh đời đời trong gia tộc các con!
Từ dạo ấy người ta thấy nơi nơi xây chùa. từ Đại Tự Nam chà bá, Suối Tiên Tự to oạch, Bái Đính linh thiêng,…. Miền tây thì có chùa Trầm kỳ nam, dựng hình dựng tượng công đức khắp nơi. Quan to thì làm lễ rướt ngọc phật hoành tráng ở hải ngoại về, xây chùa ngoài hải đảo xa xăm. Chốn quan trường thì thành phủ, thành miếu, thành nơi thờ tự. Phật giáo hưng thịnh chưa từng thấy trong thời góp của. Các quan thành tâm cầu tự, tụng niệm. Các ngày lễ thiêng. chùa linh hiển khói mịt ngày đêm, cúng bái rộn ràng, chiêng chập ầm ĩ,…
Quả thật cũng từ dạo ấy các quan ra sức mà gieo nhân xấu cũng chẳng phải lo hưởng quá xấu. Chỉ có điều lạ là thay vì luật nhân quả ứng với người gieo nhân. Chẳng biết sư cụ ở chùa thung lũng Ngàn Mây vái kiểu chi mà các quan càng gieo nhân xấu bao nhiêu đám dân đen càng “hưởng” quả xấu nhiều bấy nhiêu tương ứng!
Sau cái đận thuyết pháp cho đám quan lại ấy. Sự cụ thôi không còn thuyết pháp cho đám nông dân nghèo nữa. Ngài cũng thôi trụ trì cái chùa Ngàn Mây thổ tả thuở hàn vi. Thay vào đó ngài được phong thánh, trở thành sư quan. Công việc của ngài giờ bận rộn lắm nên ngài phải dùng xe đời mới. Áo nâu sòng xưa giờ là lụa Tân Cương, trang sức của ngài cũng xứng tầm với công đức ngài đã làm cho quan. Phòng nhập thiền của ngài giờ đây rì rì phả hơi lạnh mùa gió lào và nhả chút ấm bát nhã mùa đông.
Ngoài kinh kệ phật pháp, ngài cũng tụng niệm thêm đạo đức tiền nhân. Cái nước vối ủ thiu thối ngày trước được thay bằng nước nhân sâm, tổ yến, nhờ thế mà các ngài mới đủ sức khỏe thờ phụng và giác ngộ cùng lúc hai con đường, con đường phật pháp và con đường vô đạo pháp!
Đắc đạo cùng lúc hai con đường quả là chuyện xưa nay hiếm của các sư quan đỏng đảnh! Thiên đường giác ngộ nào cũng to. Mai này có nhập tịch vào cõi nát bàn, tha hồ mà hưởng thụ hạnh phúc đời đời!

Posted in Uncategorized | Tagged | Để lại bình luận

Đảng và nhà nước “ta” đã và đang làm gì trong tranh chấp chủ quyền với thằng Tàu?

Trương Tấn Sang phát biểu vầy: “Chủ trương của ta là mọi tranh chấp phải được giải quyết bằng biện pháp hòa bình, dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế. Có thể nước lớn phớt lờ luật pháp quốc tế vì họ mạnh. Nhưng chúng ta không bao giờ và không được từ bỏ công cụ là luật pháp quốc tế.” Những câu phát biểu đại loại thế này không chỉ mỗi TTS, mà cả ông Nguyễn Phú Trọng, ông Nguyễn Sinh Hùng, hay thậm chí đồng chí X cũng đã không ít lần phát biểu. Tuy nhiên nhìn vào thực tế cái gọi là bảo vệ chủ quyền bằng mọi giá như các lão ý nói thì vấn đề có vẻ hoàn toàn không phải như vậy!
Một câu hỏi muốn đặt ra là các ông đã vận dụng luật pháp quốc tế hay công cụ quốc tế gì cho cái gọi là giữ vũng chủ quyền thiêng liêng bằng mọi giá? Động thái nào cho thấy các ông đã thực sự sử dụng công cụ pháp lý mang tính quốc tế để giải quyết vấn đề chủ quyền bị xấm chiếm thô bạo bởi người bạn chiến lược toàn diện của các ông? Các ông có dám làm như nhà nước Philippines đã làm chưa, khi họ tuyên bố rằng họ đã hoàn toàn cạn kiệt các giải pháp ngoại giao? Trong khi trả lời họp báo người phát ngôn các ông đáp rằng ‘Việt Nam rất quan tâm theo dõi vụ kiện của nhà cầm quyền Philippines về vấn đề Trường Sa-bãi cạn Scarborough”? Vậy thì xin hỏi các ông, vì sao một hành động vận dụng công cụ luật pháp quốc tế hùng hồn và đầy chuẩn mực như thế mà bản thân các ông còn chưa dám làm, trong khi chỉ có mỗi hành động quan tâm theo dõi sát sao? Câu trả lời khả dĩ có thể là các ông như những kẻ hèn. Hy vọng tay hàng xóm có cùng chung số phận với mình kiếm chác được gì qua vụ kiện, để mình hưởng xái chăng?
Đổi lại cho sự hèn đó bản thân các ông, những nhà lãnh đạo cấp cao chỉ dám đăng đàn diễn thuyết về quyết tâm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ trong những cuộc tiếp xúc cử tri “phi chính thức”. Sở dĩ gọi là phi chính thức, bởi vì trong cái gọi là tiêp xúc đáng hỗ thẹn này, cử tri cũng chỉ là những người được tuyển chon nốt! Tổ chức các trò chơi về tìm hiểu biển đảo nhàm chán, triển lãm các vật chứng về chủ quyền biển đảo như một hình thức hoài niệm của kẻ thất tình trong chiều muộn của cuộc đời!,….
Từng ấy thôi những hành động nhu nhược cũng cho thấy bản thân cái tổ chức hũ nút của các ông cũng là chỉ dấu cho thấy đã có quá nhiều ân oán với kẻ thù của dân tộc.
Đất nước này là của người Việt Nam. Mọi người ai cũng có quyền luận bàn và thể hiện lòng yêu nước theo cái chung, chứ không phải là chuyện độc quyền yêu nước theo cái kiểu khiếp nhược của các ông!
Đảng sẽ không bao giờ và mãi mãi sẽ không bao giờ là tổ chức chính nghĩa đại diện cho tổ quốc chúng tôi. Minh chứng cho nhận định này là cả một hành trình quá khứ dài mà chính các ông đang trượt dốc vào vũng lầy tăm tối của quyền lực. Chính cái tâm lý thỏa mãn quyền lực bằng mọi giá đã tạo ra một nước VN hôm nay-một đất nước thông nhất về mặt từ ngữ nhưng chưa có thực chất. Khối đại đoàn kết chỉ là khái niệm xa vời, kinh tế trì trệ, khối liên minh công nông tạo nền tảng mị dân của các ông giờ đây chỉ là tầng lớp nắm dưới đáy xã hội. Tự do tư tưởng, tự do báo chí miễn sao đừng dụng đến vai trò lãnh đạo của đảng. Chủ quyền quốc gia chưa có thời nào mất mát nhiều như chính cái thời các ông-Cộng sản nắm quyền sinh sát. Từ đất đai biên giới phía bắc, mà cụ thể là Núi Đất, Núi Bạc,..Biển đảo thì HS, và TS nếu không muốn nói là hầu hết Biển Đông về thực chất cũng đã nằm trong quyền quản lý của TQ!
Thưa các vị lãnh đạo đầy sáng suốt và tài tình. Các ngài cứ nói rứa mãi cho đến bao giờ? Sự nghèo đói, tụt hậu, chủ quyền biển đảo đã và đang mất dần vào ngoại xăm có chờ đởi sự kiên trì, bình tĩnh mãi của các ngài được không?
Càng kiên nhẫn chờ đợi, người dân chúng tôi càng điên tiết vì cái hèn nơi các ngai càng phình to đáng ngại làm sao!???

Posted in Uncategorized | Tagged | Để lại bình luận