Làng tôi đâu rồi!?

 
Hôm nay ngồi buồn bổng nhớ hai câu thơ trong Lục Vân Tiên của nhà thơ mù Nguyễn Đình Chiểu “Trước đèn xem chuyện Tây Minh. Gẫm cười hai chữ ân tình éo le!”. Hai câu thơ gợi nhớ ngày quá khứ ngày xưa khi trở về làng tôi. Ngôi làng nhỏ xíu, trù phú nằm dọc bờ sông Tiền bị tàn phá nặng nề bởi dòng chảy hung hản của con sông mỗi mùa nước nổi tràn về.
Sau 30/75 cả gia đình dắt díu nhau về làng ni sau khi ba đã được tẩy não. Nhà cửa bị tịch thu, bị đuổi việc. Hồi xưa ông già làm hiệu trưởng trường Kỹ Thuật Nông Thôn ở Vĩnh Long. Lúc đó còn nhỏ, chỉ mới mười tuổi. Việc trở về làng nơi chôn nhao cắt rốn của mẹ đối với mình là một chuyện gì to tát và kỳ thú lắm. Không kỳ thú sao được, vì với trí tưởng tượng của thằng nhóc như mình là biết bao nhiêu viễn cảnh tươi đẹp đang chờ đón nó. Nào là tha hồ tắm sông, đi bắn chim, câu cá, đi mò cua bắt ốc,…toàn là tưởng tượng bao nhiêu chuyện để chơi và càng ít nghĩ đến việc đi học chừng nào càng thích chừng đó! Từ một thằng nhỏ thành thị, bước vèo một cái về với thế giới nông thôn, với mình quả là điều hết sức kỳ diệu.
Điều đầu tiên một thằng nhóc như mình cảm nhận được đó là đêm đầu tiên ở thôn quê không có ánh điện. Cả nhà chỉ có mỗi cái đèn dầu Huê Kỳ trứng vịt cháy leo lét. Vì là dân thành phố nên chuyện ăn cơm cũng theo nếp xưa, thông thường bữa tối vào tầm khoảng sau 18 giờ. Cả nhà năm anh em toàn lích nhích. Thằng lớn nhất là mình. Đám em nhỏ nhặng xị đòi ông già mình bật đèn để xem tivi. Ông già mình đành nói dối bọn nhóc là điện bị mất nên không thể xem ti vi được. Mấy đứa nhỏ thấy bóng tối nên càng sợ ma tợn. Mình làm anh thấy tụi nhỏ bảo ma nên cũng cuống cuồng theo.
Cả tháng đầu mỗi khi bóng đêm phủ chụp xuống sau ngày vui chiến thằng, lũ nhóc anh em nhà mình chỉ trùm chăn ngồi túm tụm trên giường chờ đợi bữa cơm tối. Tịnh không một thằng nào can đảm dám mò ra ngoài để đi đái.  Cũng vì cái tính sợ ma này mà thằng em thứ tư của mình dính cái tật đái dầm kéo dài cho tới khi nó 14 tuổi!?
Con người vốn là một sinh vật thích khi khá tốt với sự thay đổi môi trường! Dần dà rồi đám anh em nhà mình cũng bắt đầu hội nhập với đời sống thôn quê. Chúng nó không còn đòi ông già mở điện để xem ti vi, không còn sợ ma như cái hồi mới về. Mình cũng đã can đảm hơn khi dắt mấy thằng em đi đái ban đêm. Sống ở làng quê có cái thú là đái chỗ nào cũng được.
Nhà mình vườn rộng, cây cối um xùm vì bị bỏ hoang mấy chục năm nên đêm về thường nghe tiếng chim cú kêu rùng rợn. Mình nhớ có hồi thằng em thứ tư nhà bị bệnh kéo dài cả tháng. Lúc đó chả có bệnh viện hay thuốc tây gì cả. Tất tần tật nhà mình ai bệnh thì đi trị bệnh mấy thầy lang trong vườn. Thuốc của mấy ông lương y làng tôi chỉ là cây thuốc nam được mấy người làm từ thiện hái về phơi khô chặt nhỏ để làm thuốc. Thằng em bị bệnh ban bạch? bệnh tình thằng nhỏ kéo dài đến nỗi chỉ còn da bọc xương. Mấy ông thầy thuốc nam tiên lượng thằng nhỏ sẽ chết. Đêm nào tiếng đám cú vọ kêu là bà già khóc dữ lắm.
Người miền tây cho rằng tiếng kêu con cú mèo là điềm gỡ!? Còn nhớ hồi nhỏ đọc mấy tờ báo xuất bản trước khi miền nam lưu vong tờ Thần Chung thì phải, có đăng phóng sự trước khi tử hình cậu Út Trầu-Ngô Đình Cẩn thì đêm hôm trước tử hình có con chim cú mèo đậu trên nóc khám Chí Hoà kêu suốt đêm?
Mỗi lần đám cú mèo kêu ông già ra ngoài vườn lượm đá ném để xua đuổi chúng bay đi chỗ khác. Nhờ may mắn có ông thầy Năm Đạt, ông trước đây là thầy giáo làng, ổng có bằng đíp-lôm thời tây cũng hành nghề thuốc nam. Ổng đến gặp ông già mình và nói ” thằng nhỏ có lẽ không còn sống được bao lâu. Mọi phương cánh thầy-ba mình cũng đã lo cho nó rồi. Thôi thì phước chủ may thầy. Tôi chỉ còn phương thức cuối cùng may ra cứu được thằng bé” Nói xong ổng kêu ông già bế thằng bé ra ngoài để ổng lể. Lể trong đông y thời đó là dùng mảnh sành sạch cắt lên da đứa em mình. Cắt chỗ nào ổng dùng tay nặn máu chỗ đó. Ổng bảo là máu thằng nhỏ có màu đen? Lể đau đớn vậy mà thằng em mình chả hề khóc tiếng nào, đơn giản vì thằng nhỏ quá yếu để mà có phản ứng lại với đau đớn.
Sau khi lể xong, Cậu Năm Đạt-mình kêu ổng bằng cậu về phòng mạch bốc cho thằng nhỏ một thang thuốc. Ổng nói với ông già sau ba thang mà thằng nhỏ không ngồi dậy ăn cháo thì tôi cũng đành bó tay! Ơn trời sau ba thang thuốc của ổng thằng em mình hồi phục và khỏi bệnh hẳn. Thằng em khỏi bệnh bà già đến quỳ lại cậu năm rồi oà khóc nức nở!
Ông thầy năm Đạt người ốm như que củi, chỉ ăn chay trường. Trong nhà ổng cực kỳ sạch sẽ, ổng sống thanh tịnh. Cứu người nhưng ai đưa tiền ổng đều không nhận và cực kỳ khó tính. Ai có bệnh đến mà có thái độ không phải là đuổi về không điều trị. Thường người bệnh đến điều trị chỉ cần trả công cho ông Năm bằng cách hái mấy cây thuốc mọc hoang về rửa sạch, bỏ bao đem đến để ổng làm thuốc. Mỗi tuần ổng đóng cửa một lần, dắt chiếc xe đạp đòn dong đi kiếm thuốc khắp các vườn trong làng. Vườn nhà mình rộng lại còn khá hoang hoá nên hầu như tuần nào cũng thấy cậu năm lúi húi đào xới để tìm thuốc. Bà già mình thi thoảng có đồ ăn đem biếu nhưng ổng không nhận, phải lén lút đưa cho mợ năm. Ổng mà biết được mợ năm nhận đồ biếu của ai là ổng đánh dữ lắm.
Cậu năm có ba người con, nhà không có ruộng vườn chi cả mấy người con của cậu năm cũng làm thuê, làm mướn trong làng, mợ năm cũng làm thuê. Ba mình hay kêu mợ năm làm cỏ vườn. Bà có tâm rất sạch, nghèo khó vậy mà không bao giờ sơ múi bất cứ cái gì của ai. Làm vườn nhưng hễ thấy trái cây trong vườn rụng, bà đều lượm rồi đem vô cho má mình.
Mỗi khi làm vườn bà năm đều bới cơm đem theo. Buổi trưa của bà thường thấy là muối mè, và ít rau dại hái trong vườn. Khi nào ngon lắm có cái trứng luộc hoặc miếng đậu hủ kho nhỏ xíu!
Anh con lớn của mợ năm tên là Bé Ba, anh này trước đây đi lính chế độ cũ, bị thương nên sau khi về làng thay đổi tính tình suốt ngày nhậu như hủ chìm. Anh năm con út đi bộ đội ở Campuchia bốn năm mới về làng dắt theo cô vợ người Campuchia. Về được năm ngày trở lại Cam rồi biệt tích luôn từ đó.
Chị Bé Tư yêu một người làng khác dắt về nhà giới thiệu cậu Năm không đồng ý. Nghe nói chị khóc hết nước mắt năn nỉ mà ông già cũng không thay đổi quyết định. Bỏ nhà theo trai và biệt tích luôn từ dạo đó. Người trong làng không ai còn thấy chị trở về vì nghe nói cậu Năm đã từ chị và thề độc “tao có chết mày cũng đừng có trở về mà chịu tang”. Tội nghiệp mợ năm phận đàn bà cam chịu, bà ngày ngày lầm lũi như chiếc bóng. Ngày ngày đi làm thuê mua gạo để nuôi ông thầy thuốc thanh bần!
Cậu Năm Đạt mất không thấy bất kỳ đứa con nào về chịu tang ông ngoài anh Bé Ba ngồi cạnh quan tài say ngất ngưỡng. Cậu năm mất bà Năm cũng bỏ làng đi ra chợ Sa Đéc ăn mày, bà già yếu quá không ai còn thuê. Ông già mình bảo mợ năm lang thang đi ăn xin thấy đau lòng làm sao!
Bà năm chết vào một ngày mưa khóc lóc tháng bảy. Bà chết không một giọt nước mắt khóc thương nào nhỏ xuống cho bà. Ngày bà chết nghe đâu hội từ thiện cho cái hòm bằng ván gòn, người ta liệm bà trong áo quan rồi đem thiêu. Anh bé ba giờ không còn uống rượu nữa mà hành nghề chạy xe ôm. Ông già thi thoảng có gặp ngoài chợ Sa Đéc. Mỗi lần gặp ảnh hỏi thăm mình “thằng Cu nhà chú giờ làm gì sao không giúp gì được cho chú hay sao mà chú già rồi còn phải đạp xe đạp đi chợ cực khổ vậy chú!?” hic
Nước mình sắp được lên thiên đường tới đít rồi, con người ai cũng có quyền chọn cho mình cảnh khổ để hưởng sái nghĩ thiệt là nhân văn và độc đáo lạ thường! Ai chưa một lần lâm vào cảnh khổ cũng nên thử tham gia vào đám người cùng khổ một lần để nếm trải cay đắng mùi đời cho biết, kẻo sau này có muốn khổ, muốn chết chẳng còn dịp nữa, bởi rồi tất cả chúng ta đều sống mãi như tiên ông Bành tổ đó thôi!
Posted in Uncategorized | Để lại bình luận

Dì Tư Xom.

 
Hồi còn sống ở cái làng An Hiệp bé tẹo, nghèo khó. Đất đai là công cụ sản xuất của Đảng giao cho dân bị Hà Bá ngày đêm xà xẻo! Dân tình nhộn nhạo mai dỡ nhà, mốt dựng nhà. Cứ điệp khúc này mà hát mãi nên nhà ngày càng bé tẹo và tạm bợ hơn! Nhà mình chẳng khá gì hơn là cái chòi lá của trẻ con thuở chơi nhà chòi.
Đối diện với căn hộ rách bươm nhà mình phía bên kia sông là nhà dì tư Xom. Dì tư dáng người nhỏ thó, miệng rộng, ăn nói sang sảng như đàn ông. Miệng lúc nào cũng bỏm bẻm nhai trầu. Ngán nhất là mỗi khi bả qua nhà chơi trong lúc miệng đang nhai trầu. Cứ bạ đâu phun đó. Vì là khách đến chơi nhà nên không cách chi nói được với dì. Nhà thì nền đất chỗ nào di tư phun trầu nó cứ nhão ra. Đã thế khi nhai trầu nước dãi màu đỏ ứa ra hai mép, dì tư dùng ngón trỏ và ngón cái quẹt mồm rồi quệt lên thành ghế hay vách nhà thiệt là ớn hết sức!
Dì tư có tật là ghé nhà mình có khi ngồi nói chuyện đến khuya. Dì nói bất kể chuyện chi. Nói về gia đình dì, tố khổ cái lão chồng dâm loàn đã bỏ dì theo người đàn bà khác. Nói về đám con dì, con dâu dì,…Nhiều khi nói những tình huống khiến dì cười đái trong quần luôn! Oải nhứt là khi đang học bài gặp dì tư qua chơi nhà, y như rằng sáng hôm sau tiết kiểm tra miệng ăn phải con ngỗng là chuyện thường tình. Hồi nhỏ học hành dỡ hơi. Bài chi thuộc lòng phải gạo đi gạo lại cả tiếng mới may ra nhớ lõm bõm!
Nhà di tư Xom không có đất ruộng trồng lúa. Dì bảo, tao trước kia nhà cũng có cả chục công ruộng trồng lúa một vụ rất trúng. Nhưng cái thằng chồng cặt ngựa câu kết với con đĩ lồn lừa đã lừa bán cho người khác rồi!?
Thu nhập chính của Dì tư Xom là cách nhật chèo xuồng sang phía bên kia bờ sông Tiền, thuộc huyện Cao Lãnh để hái rau muống mọc dại về bó thành từng lọn nhỏ rồi đem ra chợ Sa Đéc bán lấy tiền đổi gạo! Hồi đó người dân quê tôi gọi vùng đất màu mỡ phía bên kia sông Tiền là bên cồn. Cồn tức là vùng bãi bồi phù sa. Nơi đó dân chúng thưa thớt, đất còn hoang hoá. Bãi bồi có nhiều tôm cá, rau cỏ mọc xanh um, cực kỳ tươi tốt. Đặc biệt rau muống đỏ, cọng nào cọng nấy mập ú cỡ ngón tay cái, Rau trai cọng to bằng ngón tay trỏ, hái về luộc, ăn mềm và ngọt. Ăn cơm bằng rau này luộc chắm mắm kho quẹt là số dzách!
Mắm kho quẹt của người nhà quê miền tây khác một trời với món kho quẹt chấm rau tập tàng trong mấy nhà hàng quán nhậu đất Sài Gòn. Kho quẹt của người miền tây là nước mắm bỏ vào cái ơ đất nung đặt lên bếp củi và đun chừng nào cạn còn lại hổn họp sền sệt như muối. Món kho quẹt tuỳ chỗ giàu nghèo mà có thêm chút đỉnh sự khác biệt, khi thì thêm vào ít tép mỡ, mấy trái ớt hiểm xanh. Kho quẹt chấm rau luộc, rau sống chỉ tổ vở nồi cơm nhà nghèo. Thời đó gạo vốn là thứ chính trong bữa ăn hàng ngày. Ngoài trời mưa lâm thâm ăn cơm với nước mắm kho quẹt là sướng nhứt. Ăn xong một đập hai xoa leo lên giường trùm chăn ngủ một mạch tới sáng còn chi bằng!
Phần lớn người làng tôi đều sang cồn để kiếm sống. Nào là đánh cá, chất chà cá he, chà tôm, cào hến, chặt ngó bần về làm củi đốt, hái rau muống, làm thuê cho mấy chủ đất giàu có bên kia,…
Dì tư làm việc cần mẫn hàng ngày. Trong đời chưa thấy người đàn bà nào cực khổ như dì. Ngày nắng hay ngày mưa gì bà cũng đều đặn làm cái công việc cực khổ đó mình ên. Sáng tầm 3 giờ sáng, dì tư dậy nấu cơm gói vào lá chuối với ít con khô, múc một ấm nước lóng phèn đem xuống xuồng, rồi bơi một mình sang kia sông để hái rau muống. Công việc bơi xuồng ghe nhỏ qua sông Tiền trong mùa mưa bão thường gặp nhiều rủi ro chết người. Sợ nhất là lúc giông gió thời điểm vượt sông. Mặt sông đang yên lặng bỗng sóng nổi cồn cao 2-3 mét, quật từng cơn thì xuồng ghe nhỏ, chở khẳm là bị nhấn chìm như chơi. Làng tôi chứng kiến nhiều vụ lật xuồng rất thương tâm!
Hồi đó có con bé tên Sáu Sậu cũng cỡ tuổi mình có mang đâu chừng sáu tháng đi cấy bên cồn về xuồng bị giông lốc nhấn chìm. Trên xuồng có 6 người. Ba người chết trong đó có Sáu Sậu và đứa con hài nhi trong bụng! Xác Sáu Sậu trôi tuốt xuống bến phà Mỹ Thuận phải bốn ngày sau người nhà mới tìm thấy đã trương phình! Sáu Sậu chết lúc mới 16 tuổi cùng với đứa con không biết ai là ba nó!? Sáu Sậu mồ côi cha mẹ, ở với ông ngoại có thời đi lính cho Tây tận Algieri!
Thường dì tư đi từ sáng sớm đên tối mịt mới trở về nhà. Ngoài đống rau muống ngập xuồng còn có mấy trái bần chín cây, bắp chuối xiêm, xoài chín,…dì bảo là lượm trong các bờ đê bao!? Về nhà bà cột cái xuồng vào bến rồi một mình lúi húi vác lên bờ để lặt là già, lá sâu xia, cắt bỏ rể mọc từ nách lá, bó thành từng lọn cỡ cổ tay người lớn bằng cọng lá chuối khô xé nhỏ. Thường dì chỉ làm việc một mình. Có nhiều đêm dì làm cho tới gần sáng mới xong. Sau khi đã bó xong, dì lại vác xuống xuồng rồi bắt đầu chèo ghe ra chợ Sa Đéc để bán.
Hồi đó từ làng ra đến chợ Sa Đéc đường sông khoảng chừng 4-5 cây số, chỉ có một con đường ngắn nhất là đi cặp dòng sông Tiền. Ngán nhất là chèo ghe đi vào mùa nước nổi. Vào mùa này, nước phù sa đỏ ngầu từ thượng nguồn đổ về rất mạnh. Suốt mùa nước nổi dòng chảy chỉ một chiều duy nhất. Dòng chảy mạnh đến nỗi nhiều khi ghe trang bị máy đuôi tôm cũng phải ì ạch vượt qua những chổ xoáy hiểm trở. Đó là chưa kể đến hiện tượng đất lỡ hết sức nguy hiểm. Nếu ai xui xẻo đang đi gặp đất lỡ thì xuồng ghe bị hút vào và nhấn chìm tợ như gặp cơn sóng thần nhỏ. Hồi trước nhà mình cũng từng bị mất chiếc ghe vì đất lở. Đất lở ngoài vàm sẽ tạo hiện tượng nước trong các con lạch nhỏ bị hút ra, kéo theo ghe neo đậu trong lạch cũng bị hút theo. Nếu không phát hiện kịp ghe trôi ra sông lớn, mất luôn!
Gặp chổ vịnh, nước chảy yếu dì tư chèo, gặp chổ xoáy nước chảy mạnh không thể chèo được dì tư cặp bờ, leo lên ruộng dùng tay kéo ghe vượt qua! Nhẫn nại, chịu thương chịu khó một mình dì cũng tới chợ. Nhiều hôm nước ngoài ruộng ngập quá lưng quần, dì phải vừa bơi vừa kéo ghe rau muống khẳm đừ! Bán xong bơi xuồng ra sông Tiền thả trôi dòng nước đưa dì về xóm cũ. Nhiều hôm dì tư mệt mỏi ngủ thiếp đi, thuyền trôi tới phà Mỹ Thuận! Cách xa nhà dì cả chục cây số. Đời đã khổ lại càng khổ hơn!
Dì tư có bốn người con, ba trai một gái. Đứa nào dì cũng cực khổ lo cho ăn học. Anh con lớn của dì tư học dang dỡ đại học văn khoa Sài Gòn, về lấy vợ sớm. Gặp cô vợ quá quắt nên dì tư chửi suốt ngày. Đứa thứ hai là gái học trên Sài Gòn rồi lấy anh chồng hải quan gốc bắc kỳ. Anh thứ ba ra làm công thương nghiệp ở tận Hồng Ngự. Còn ở với dì là thằng Út, suốt ngày đi chơi bời lêu lỏng, bỏ học sớm, chả thấy phụ dì tư làm gì hết. Phần là dì tư có tật chửi con cái. Mỗi lần bả chửi mấy tiếng đồng hồ. Chửi con đã, rồi lôi chồng ra chửi. Nhiều đêm dì tư vừa lặt rau muống vừa chửi chồng con ra rả cả đêm. Có khi chửi đã dì ngủ luôn sáng bảnh mắt, quên cả lặt rau. Chuyến chợ đó coi như dành lại cho ngày hôm sau.
Dì tư có tật hay chửi hàng xóm vì chuyện không đâu. Chuyện tàu lá dừa nhà dì rụng xuống nhà bên bị người ta lấy mất làm lá nhúm lửa dì cũng chửi. Về nhà mất cái này cái kia dì nghi ngờ ai là cứ chõ mỏ sang nhà đó mà chửi. Ai nhột lên tiếng chửi lại. Thì ô hô, một trận chiến ngôn ngữ sử dụng linh vật được tung ra!
Dì chửi, nếu không ai phản ứng gì thì cuộc chửi kéo dài chừng tiếng đồng hồ. Chửi lại thì dì chửi tiếp, chửi khi nào khan tiếng thì thôi.
Dì tư không biết chữ nhưng được cái là thuộc rất nhiều ca dao tục ngữ nam bộ. Đêm miền quê yên ắng, một mình dì tư bên cái đèn trứng vịt, những đêm thanh bình không chửi chồng con, hàng xóm thì dì hát đối một mình. Có khi thì dì đọc thơ lục bát của đức Huỳnh giáo chủ. Ba của dì tư nghe nói là tín dồ của phật giáo Hoà Hảo nên nhờ vậy mà dì thuộc thơ của ổng rất nhiều!
Làm lụng cực khổ cả đời như thế mà dì tư sống thọ phết, bà chết nghe đâu cũng gần chín mươi tuổi mặc dù có thời kỳ dì mắc bệnh lao vì lao lực quá sức!
Cuộc đời dì quả thật ứng với câu nói bất hủ ” Con người sinh ra chỉ để đau khổ rồi chết!”. Dì sống với cả đời cực khổ, chồng thì bỏ, con cái vì ớn cái tánh hay chửi của dì nên chẳng dám đem dì về phụng dưỡng. Cuối đời có rỗi rãnh chút đỉnh…nhờ bệnh tật và cũng chẳng còn sức khoẻ để làm!
Posted in Uncategorized | Để lại bình luận

“Rửa tội”

Hồi nhỏ ở làng mình có lão già dịch nghèo khó, ốm cà tong, cà teo. Nghề kiếm sống của lão già ấy là đạp chiếc xe đòn dong đi bán đá lửa, hột quẹt, dầu lửa, tim đèn,.. Lão nghèo đến nỗi quần áo rách bươm, đầu tóc bạc phơ, râu để dài đến rốn. Trên người lão lúc nào cũng vận hai cái áo rách như tổ đĩa. Cổ quấn chiếc khăn rằng màu cháo lòng sặc sụa mùi thuốc lá, mùi mồ hôi đã lâu ít khi tắm.
Chiếc Xe đòn dong cà khổ của lão chỉ là khung sắt hoen gỉ, chẳng còn ký ức màu sơn của một thời. Cái vỏ xe còn kinh khủng hơn nhiều. Lão đi xe đạp không ruột. Để có thể chạy được trên con đường làng gồ ghề, lão cập nhiều lớp vỏ vào rồi dùng ruột cao su quấn thật cẩn thận. Giống như thời nay người ta dùng bánh cao su đặc để đẩy xe cút kít vậy?
Đồ nghề kiếm cơm độ nhật của lão là chiếc túi thầy tu màu vàng bạc phết được treo cẩn thận ở đằng trước tay lái.
Hàng ngày lão đạp xe khắp làng trên xóm dưới bán cho mấy bà nông dân, thanh niên, mấy cụ già,… cà khổ sau thời hậu chiến tranh miền nam mua để nhúm lửa, đốt thuốc rê,..
Lão già được dân trong xóm đặt biệt danh ông già be he vì cái tật dê lộ liễu, và câu rao hàng danh bất hư truyền của lão. Thời ấy lão đâu chừng 70 cái xuân xanh. Mỗi khi rao bán hàng lão thường nói “Ai mua quẹt, đá lửa, tim đèn không, be he he e e….”
Mấy bà nông dân trong xóm rất ngại khi phải mua hàng của lão vì cái tánh dê chẳng nể nang ai. Gặp mấy bà “hôm qua đi nhận xác chồng” lão lại càng dê tợn! Bà nào sống một mình, tính tình lẳng lơ là lão xáp tới mò vú ngay.
Hồi ấy trong xóm có mợ Năm Giòn, chồng chết trận năm sáu tám. Mỗi lần đạp xe qua đây, lão cố tình dừng lại thật lâu để mong nhìn thấy mợ!?
Mợ năm có bốn người con. Mợ còn trẻ, tướng người thắt đáy lưng ong. Mợ có cặp vú đầy đặn chết người. Ba chồng sợ mợ đi bước nữa nên bắt mợ ăn trầu, mặc quần đáy nem trông sao cho già quéo đi!
Cứ mỗi lần đứng đấy, tiếng rao của lão càng khiêu khích hơn. Ông năm Điểu-cha chồng mợ căm lão lắm. Có lần ổng chửi lão một trận. Từ đó lão cạch không dám nhìn mợ nữa. Mỗi khi đạp xe qua lão chỉ thở dài, rồi rao mà không đệm vào từ be e heeee ở cuối câu!
Dân làng bảo, hồi nhỏ lão tu hành đạt phẩm hạnh thuộc hàng cao quí. Nghe đâu đã từng làm trụ trì chùa ở hàng nhất phẩm. Tiếc thay vì vận số, vì tục luỵ mà lão cựu sư cụ không giữ được mình. Hồi trẻ người ta bảo lão đẹp trai, lại có tài ăn nói nên thí chú đi chùa cúng dường chư phật, thành tâm xám hối, cầu nguyện an lành đâu không thấy, chỉ thấy sư cụ thò lỏ dòm như chó nhìn cứt trôi sông lòng thòng nhễu nhại, thèm thuồng vụng trộm!
Phật tử đàn bà tới chùa ngày rằm hay đêm sáng trăng chỉ thấy thầy áo mão chỉnh tề, đọc kinh tụng niệm. Đám con nhang xì sụp khấn vái. Tàn buổi cầu kinh phật tử quay về nhà, đẫy giấc cho buổi đồng áng ngày may.
Sư cụ lủi thủi hào hứng lui về hậu liêu cùng với thí chủ cúng “giường chiếu”, đàm luận phật sự cùng lão.
Tiếng “lành” đồn xa. Mấy lão nông tri điền nổi giận rình mò, vớ bẩm sư cụ đang mây mưa tìm chốn cực lạc chẳng qua tu thiền, kinh thỉnh chánh niệm. Đám nông dân nổi giận tận cho sư cụ thức tỉnh bằng côn sắt và nắm đấm. Đuổi cổ sư cụ trần truồng lỏng nhỏng chạy tít ra đồng.
Từ ấy, sư thôi không còn tu hành chi nữa. Đổi lại cho nỗi buồn thất sũng vì chuyện gái gú. Sư dùng dao chặt đứt cái của quý mà vì nó khiến con đường tu nghiệp giải thoát cái khổ, chấm dứt kiếp luân hồi nửa đường gãy gánh!
Duy có điều, lão già vẫn giữ thói quen ăn chay trường cho đến cuối đời.
Hồi nhỏ, trước nhà có hàng tre trúc toả bóng mát quanh năm. Mỗi lần đi bán ngang đây quãng giờ ngọ. Lão dừng xe, dỡ gói cơm lá chuối, ngồi xếp bằng miệng lẩm bẩm cầu kinh. Bữa cơm chốn thiền môn dang dỡ của lão trông thiệt buồn lòng. Gạo đỏ cứng còng queo, vài trái dưa chuột đèo đọt luộc, ít muối mè. Nhìn thấy ông lão ăn, con nít như mình thèm nhỏ giãi. Phải giờ cơm, bưng tô ra ngồi kế bên, khi thì lão sớt cho miếng chao, ít trái luộc. Thuở ấy miếng ăn cứ mà nhớ đời hoài!
Những tưởng sư xử cái nguồn gốc gây ra phiền não là chấm dứt phiền não!?
Chẳng những nỗi vọng thèm khát đàn bà trong lão không hề giảm đi mà có phần biến thái qua trạng thái khác còn kinh khủng hơn. Gặp người nào lẳng lơ là lão cứ thò tay bóp vú chẳng ngại ngùng. Có điều vì cái của nợ ấy chẳng còn, nên nỗi thèm khát đàn bà của lão cứ ứ nghẹn trong ánh mắt và hành xử qua thói quen sàm sỡ!
Nghĩ về câu chuyện làng hồi ấy mới thấy cái liêm sĩ của con người vẫn vọng về trong cách sống. Dầu lão ấy không dứt được nghiệp quyến rũ đàn bà nhưng ít ra lão còn liêm sĩ xử cái làm lão thoả mãn., cái gây cho lão bao phiền não ưu tư!
Tiếc thay, cái muốn trong trí não ấy còn đang sống! Cho dù lão có cắt con cu ấy nhiều lần thì chuyện đàn bà cứ vẫn sống khoẻ như ngày nào!
Kỳ lạ thay, kẻ vô liêm sĩ thời nay trong chốn tu thiền đạo đức tiền nhân thay vì hành động trưởng thượng như lão già be he bán quẹt đá lửa, nay ra lệnh giết đàn bà.
Loáng thoáng đâu đó trong lịch sử, cũng đã hơn một lần cho thấy tay tiền nhân đạo đức ấy cũng đã giết đàn bà để bảo toàn danh dự cho sự trinh tiết của gã khi còn là CON NGƯỜI!
Diệt đối tượng là động cơ, nguyên nhân gây ra phiền não, thay vì diệt ý niệm dục thức dậy trong trí não của lão thầy tu khốn kiếp là chuyện nên làm? Quyền lực nằm trong bàn tay đầy máu, cái ngu biến thành cái ác luôn đồng hiện mãi mãi, phi thời gian.
Tấn trò đời thô bỉ ấy như là minh chứng cho sự liêm khiết? Rằng thoả mãn nhục dục bằng đàn bà, giết đàn bà để quay về nẻo thiện. Phải chăng là tấm gương sáng được nhóm công cụ quyền lực nhiệt tình học tập để thành chánh quả!?

Posted in Uncategorized | Để lại bình luận

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP Năm 2014. Sửa lại chút đỉnh vẫn xài được.

Dân Việt Nam sưu tầm và biên soan dựa trên tuyên ngôn độc lập của Hồ Quang.
Hỡi đồng bào cả nước,
“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.
Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.
Thế mà hơn 80 năm nay từ khi có ĐCS, bọn chúng lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất của dân ta, đền bù với giá rẻ mạt không ai chịu nỗi, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.
Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.
Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ nhà nước giống nhau ở Trung, Nam, Bắc để thống trị ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng dùng giang hồ đội lốt thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các người yêu nước của ta trong những bể máu.
Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.
Chúng bán bia , rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.
Về kinh tế, chúng bóc lột, tham nhũng dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.
Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.
Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng.
Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên, ngoại trừ tư bản thân hữu và tư bản đỏ. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.
Mùa thu năm 1988, phát xít Tàu đến xâm lăng Gạc Ma để mở thêm căn cứ đánh ta ở Biển Đông, chúng hoàn toàn yên lặng, quỳ gối đầu hàng bằng hội nghị thành đô, mở cửa nước ta rước Tàu thêm một lần nữa. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Đảng cộng sản Trung Quốc và Đảng cộng sản Việt Nam. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Nam Kỳ ra trung kỳ rồi đến Bắc kỳ kinh tế ta suy sụp hoàn toàn. Theo khảo sát mới nhứt để thoát ra cái bẫy sập trung bình thì nước ta cần 44 năm nữa.
Ngày 1 tháng 5 năm nay, TQ ngang nhiên đặt giàn khoan vào Biển Đông. BCT hèn nhát hoàn toàn im lặng, hoặc là đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không “bảo vệ được chủ quyền quốc gia mà chúng đã bán nước ta hai lần cho Tàu.
Trước ngày 16 tháng 7, biết bao lần người dân đã xuống đường kêu gọi bọn Tàu cộng rút giàn khoan, kêu gọi nhà nước, BCT thôi hèn với giặc ác với dân cùng liên minh với dân để chống lại hành vi xâm phạm chủ quyền trắng trợn của chúng.BCT-ĐCS đã không đáp ứng lại mà còn thẳng tay khủng bố người yêu nước hơn nữa. Thậm chí đến ngày 15 tháng 7 khi thua chạy-TQ đã rút giàn khoan Hải Dương ra khỏi Biển Đông, chúng còn nhẫn tâm tuyên bố đó là nhờ thiên tài Đảng ta.
Tuy vậy, đối người CS, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày 1 tháng 5, dân ta đã đón nhận nhiều người dũng cảm bỏ đảng quay về với quần chúng và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.
Sự thật là từ sau Hội Nghị Thành Đô năm 1990, nước ta đã thành thuộc địa của Tàu, chứ không phải thuộc địa của Nga nữa. Nay là lúc nhân dân cả nước phải nhận rõ sự thực này để nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Cộng hòa.
Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Tàu, chứ không phải từ tay Nga.
Ba X chạy, Hói hàng, vệ Kính Vương thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích CS gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ độc tài mấy mươi năm qua mà lập nên chế độ Cộng hòa.
Bởi thế cho nên, chúng tôi, Người Dân của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Trung Quốc, xóa bỏ hết những hiệp ước mà TQ đã ký với nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của TQ trên đất nước Việt Nam.
Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân bành trướng Bắc Kinh.
Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng, nhân quyền tại Liên Hợp Quốc, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.
Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Tàu hơn 1000 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng lên chống độc tài cộng sản mấy chục năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!
Vì những lẽ trên, chúng tôi, người dân của nước Việt Nam Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:
Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

Posted in Uncategorized | Để lại bình luận

Dự phóng

Thành phố trầm mặt, nghĩa trang công viên buồn hiu hắt. Tiếng con chim sẻ lẻ bầy gọi đàn trong chiều mưa tầm tã. Thực ra người nghe cũng dự phóng tiếng gọi đàn của con chim sẻ tợ như tiếng gọi đàn con bé bỏng sau cơn cuồng phong vừa quét qua thành phố- ngôi nhà nhỏ nhoi của chúng bị thổi bay đi-cùng với đàn con mà mới sáng nay còn tíu tít há những chiếc mỏ rộng vành chờ con sâu nhỏ của mẹ. Cái hình ảnh dự phóng của chiều mưa buồn ấy cũng đủ khiến lòng nó dậy lên hoài niệm một chút hình ảnh nào đó trong quá khứ đã chết cùng với cái tương lai khả dĩ khi quá khứ ấy không xoay chiều theo gam màu xám u buồn?
Vài bóng người lẫn khuất trong hàng bia mộ. Xa xa tiếng chuông nhà thờ vang khúc kinh gọi hồn. Tiếng tụng niệm ê a chiêu hồn của mấy thầy tụng thấp thoáng đâu đó trong nghĩa trang.
Vài con chó cái gầy đét, hai hàng vú lõng thõng, bộ lông loang lổ vết chàm, lang thang nhặt nhạnh những mẫu bánh nhão nhoét ai đó bỏ lại.
Nó thẩn thờ ngồi nhìn làn khói mỏng manh bay lên từ những que nhang gầy guộc cắm nghiêng ngả trên nền đất sũng nước của ngôi mộ vừa được lấp đất. Vài cành hoa giần giật run run trong gió. Hàng chữ viết tên chàng cũng nhòe nhoẹt cùng giọt nước mắt tiếc thương của nó. Nó tự hỏi vì đâu con người chàng, gã trai hiền như đếm thế kia lại nhẫn tâm làm chuyện tội ác-phạm tội giết người-giết chính sinh mạng chàng.
Nó run run tự hỏi vì sao chàng yêu quá đời người này. chàng yêu quá những người thân yêu của chàng. Chàng yêu quá nó. yêu quá những con vật hiền lành chung quanh chàng. Yêu bản thân chàng là thế, mà vì môt phút nông nỗi-sự hững hờ của nó-chàng ra tay hạ sát chính sự sống của mình. Tội ác mà có lẽ còn có kiếp sau, luôn như một định mệnh ám ảnh truyền kiếp!?
Vậy phải chăng cái thứ tình yêu mà chàng thể hiện ra bề ngoài tâm hồn “rực sáng” ấy của chàng cũng chỉ là sự ẩn chứa của cái ác. Cái ác cam tâm hành hạ chính mình. Cái ác ra tay hạ thủ chính đời mình vì một dự phóng của tư tưởng chàng, của liên hệ trong tư duy hẹp hòi của chàng? Rằng “nó” là cái tất cả của đời chàng? Sự chiếm hữu nó bằng tinh yêu cao ngạo nhưnng không kém phần ích kỷ lại được ẩn danh bằng sự cao thượng? Bởi chàng chẳng mảy may bao giờ làm đau nó để chiếm hữu nó cho kỳ được trong suốt hành trình sống của chàng!? Cái hành trình sự sống ngắn ngủi nhưng dung chứa ở người đời là một tham vọng cực kỳ to lớn, tích lũy hàng triệu năm trong trầm tích sống của nhân loại.Tham vọng đó được nâng đỡ bằng giáo dục, bằng truyền thống, bằng lịch sử và bằng cả tế bào gia đình nhỏ nhoi của chàng!?
Nó biết trong mỗi con người chúng ta. Đặc biệt trong cuộc đời người nằm xuống chiều nay. Sự bức tử và làm đau chính cuộc đời mình là vì cái nghĩ ảo tưởng của tham vọng, về sở hữu mà lẽ ra nó phải thuộc về.
Khi chàng dự phóng về một điều còn chưa thuộc về chàng những hình ảnh hứa hẹn mà nếu chàng chiếm hữu nó sẽ mang lại cho chàng. Chàng liên tưởng cái hạnh phúc khi chàng vọng tưởng sẽ đẹp và dịu dàng biết mấy. Chàng mơ một giấc mơ vượt quá tầm với của năng lực giới hạn. Rồi trong hành động mơ đó chàng thỏa mãn mình đang sống, đang hưởng thụ. Đang được và đã được.
Hình ảnh của những dự phóng và liên tưởng đó liên tục xuất hiện, ngay cả khi chàng ngủ, thức, ăn uống và làm việc trong tâm trí chàng. Nó ám ảnh chàng về một điều khó mà chấp nhận cái sự thật phủ phàng rằng chàng đã mất nó ngay khi khởi đầu tiếp cận. Chính vì không chấp nhận cái sự thật thậm phi lý ken dầy trong não chàng nên chàng tự dằn vặt mình. Chàng cảm thấy cuộc đời của mình vô nghĩa biết bao nếu như chàng không có nó.
Mọi hình thái và màu sắc cuộc sống vốn luôn tươi mới xung quanh chàng giờ chỉ còn là một màu xám xịt, buồn nôn. Những lúc vui sống và năng động của bản thân trước đây giờ chỉ là một nhịp điệu buồn tẻ chán chường, bởi khi chàng mơ màng và dự phóng chàng đang sống không phải như cái chàng vốn có mà là sống dựa trên cái ảo tưởng sẽ có, dựa trên một chất kích thích khoái lạc.
Liên tưởng những hình ảnh có thật, đẹp đẽ trong quá khứ làm chàng tiếc nuối và đau buồn khôn nguôi.
Vòng lẩn quẩn đau khổ, tiếc nuối, tuyệt vọng,…lần hồi sẽ biến chàng thành kẻ vô tri và trầm uất. Tự chàng nhìn thấy sự tồn tại của chính chàng thành vô nghĩa.
Kẻ bạo tàn hơn sẽ giận dữ vì mất mát. Dĩ nhiên hành xử để cưỡng và chiếm luôn ưu tiên trong hành động, với chúng hành động chiếm hữu bằng bạo lực, cưỡng đoạt tình yêu, sự sợ hãi phục tùng luôn có cùng một thứ giá trị. Chẳng may cá nhân hay một nhóm nào đó từ chối và chống lại bạo quyền này sẽ được nhận được tương ứng sự tàn bạo của kẻ tham vọng độc tài!
Cái tất yếu kỳ vọng chỉ có duy nhất ấy là niềm đau khôn tả mà tiếc thay đã biến sự sống của chàng thành vô nghĩa. Chàng không cảm nhận sự sống của mình là một ân phúc của bản thân. Thay vào đó chàng đặt ra mục tiêu sống của mình là sự chiếm hữu cái vô hình như là một lẽ sống. Chính sự mụ mị của giới hạn trí não cùn lục đó đã khiến chàng ngu muội tự hủy hoại đời mình.
Khóc thương cho chàng vài giọt nước mắt vốn đã thừa mứa trong chiều mưa hôm nay tợ như đem muối bỏ biển. Thời gian rồi sẽ biến mọi thứ thành quên lãng. Nấm mồ chết trẻ vì cuồng yêu của chàng cũng sẽ rậm rì đám cỏ xanh. Tấm bia đá ghi tên chàng sẽ ngã đổ vì thời gian. Mai này có khi lạc bước vào chốn cũ, hẳn nó sẽ chẳng còn nhận ra nơi chốn chàng đã từng yên nghỉ. Người thân quanh chàng rồi sẽ lãng quên vì bao thứ hiện thực từ cuộc sống. Duy chỉ có cái chết của chàng là ngưng dứt mọi thứ, ngưng dứt tham vọng, ngưng dứt khổ đau,….của chính chàng!
Posted in Uncategorized | Tagged | Để lại bình luận

Chống ai cũng thắng, riêng chống “ta” có thua!!!?

Hồi xưa “chống” Pháp “chống” Mỹ mấy cụ nhà mình cũng đấu tranh này nọ trong tù rồi tuyệt thực. Ví như cụ Vĩnh, cụ Chênh, cụ Tố Hữu nhà thơ ở nhà tù lao Bảo thập niên 40 hồi cái đận chống Tây đội Hoa , đội Liên. Cơ khổ cái dân Việt ni. Chống mà không đội một ai vào thay có nước mà ăn mày, bởi có lực có tài quái chi mà chống với đỡ. Xuôi cho cái, đội ai nhè đi đội thằng Hoa là đời đen như mỗm chó, tiền đồ sáng lạng như đít chảo…đun củi ướt, ám đầy mụi than. Thành đen càng đen tợn.
Thời buổi này nói chuyện đội Hoa của ta khi xưa chống Tây, chống Mỹ cần gì chứng minh. Coi cách ứng xử với bọn cướp Tàu cũng đủ hiểu. Nợ đầm đìa ra đó. Hôm thì đang ngủ với vợ nó sang đòi hiếp cũng nhịn. Bữa thì con mình đang bơi trong ao nhà nó đuổi để cho con nó một mình một ao cũng im thin thít. Xây dựng cơ nghiệp chưa xong nó đòi nợ ngay cái cù lao Hoàng phố cũng chả dám nói gì. Thậm thụt viết công hàm trao luôn!
Vay chi vay của đám ma cô nặng lãi, trả cả đời cũng không hết.
Hồi nớ cụ Tố nhà ni tuyệt thực mới có năm sáu ngày đòi cải thiện chế độ lao tù bọn tây nó đáp ứng ngay. Chứ nếu không, kéo dài như bác CHHV thời nay hổng chừng có bài thơ ẩm thực về cách ăn cá chột nưa hay đã xanh cỏ từ lâu rồi. Có còn đâu bài thơ với thẩn lưu cho hậu thế học và phân tích mệt bỏ bu!
Sở dĩ mà không kéo dài được như bác CHHV là vì thời chống tây thể tạng mấy bác ốm lòi xương nên nhịn đói quá tuần, chết chắc. Ngẫm bọn tây ác như văn học nô tỳ mô tả thế kia mà cũng còn nhân đạo chán!?
Bây giờ kháng chiến chống Pháp, Chống Mỹ “thành công một chân”, quay ra ác với dân còn hơn cả bọ thực dân cũ mới cộng lại. Sở dĩ nói thành công một chân là vì trong tư thế chống cái chi cũng phải có chân trước chân sau thì thế chống nó mới mạnh. Xui là nhè chống chân sau lại dựa vào vũng lầy thằng Tàu nên bây giờ chân sau còn kẹt mãi rút không ra.
Tụi Tàu vốn tính tình thật thà, thấy mấy tay vinh quang nhà mình thò một chân sang nó lấy xích khóa lại luôn, thậm chí cả đổ bê tông để chôn chân vĩnh viễn, nên bây giờ nói năng chi cũng phải kín tiếng, dòm rước ngó sau. Kẻo nó nổi đóa đòi cưa chân.
Có thời tưởng đã rút được chân về nhưng rồi nghèo đói lại thích chơi ngông, làm ít ăn nhiều, vừa làm vừa phá. Càng làm càng nghèo nên tiếp tục quay lại thò một chân sang Tàu tìm chỗ trụ mà chống tiếp.
Chuyện này ai cũng thấy nhưng chẳng ai dám nói, Bác Vũ dám, thậm chí còn kiện cái tay thò chân sang Tàu.
Chúng bắt bác vì cái tội phá hoại tình hữu nghị Việt-Tàu, chỏ mỏ vào việc riêng của chúng. Bỏ tù bác, đối xử nhẫn tâm với bác. Bác phản dối chúng bằng tuyệt thực đòi cải thiện lao tù, đòi quyền con người,…
Rút kinh nghiệm cái “hèn” của Tây, Mỹ chúng làm ngơ và chờ bác thua, hoặc chỉ có chết. Hơn 20 ngày trôi qua bác đã không ăn gì, chỉ uống nước lã cầm hơi!
Không biết liệu bác còn cầm cự bao lâu. Liệu chúng ta còn có một tia hy vọng nào đó từ lòng nhân đạo của Đảng ta, nhà nước ta của dân do dân và vì dân, dẫu đó là một người dân không yêu cái mà Đảng đang yêu!?
Đức phật Thích Ca hồi xưa trong con đường đi tìm sự giải thoát ngài cũng tìm đến tuyệt thực như là một chân lý giải thoát nhưng thất bại. Khi một người đàn bà đi ngang nhìn thấy thân thể tiều tụy của ngài sắp chết. Bà đỡ ngài dậy và cho ngài uống sữa dê. Từ đó ngài ngộ ra chỉ có sự sống mới có cơ hội để tìm thấy chân lý giác ngộ.
Ngày nay CHHV đang đối diện với cái ác và người đã ngộ ra chỉ có tuyệt thực và ý chí bất khuất mới làm cho cái ác sụp đỗ dù cho sinh mạng của người còn hay mất!

Posted in Uncategorized | Tagged | Để lại bình luận

Tuồng tích yêu của gã khốn!

Ngày càng nhiều có những gã có tuồng tích yêu điên khùng bị đem ra xử công khai trước bàn dân thiên hạ. Nhẹ thì cũng vài chục năm tù. Nặng hơn thì chung thân khổ sai, hoặc án tử hình. Cứ mỗi lần những gã khốn ấy ra tòa báo chí có dịp tung đám phóng viên viết bài đăng báo vào cuộc phân tích mỗ xẻ về cái sự khốn ấy. Báo lá khoai thì khai thác ở khía cạnh ly kỳ và tàn bạo của vụ án đến từng ngóc ngách nhỏ nhất của sự kiện. Nói chung là miễn càng ly kỳ, rùng rợn giật gân càng nhiều càng tốt, miễn sao câu view, câu khách thu quảng cáo, bán được nhiều báo là ổn. Đám báo tự nhận mình lớp chiếu trên thì phân tích động cơ nào đó thuộc về tâm lý rồi kết luận đưa ra báo chí để nhằm cảnh cáo, răn đe,..Thậm chí lấy đó, những phát hiện từ bên trong nội tại của vụ án như là một bài học kinh nghiệm khiến cho ai còn có ý định hành xử tương tự phải đắn đo!
Tuy nhiên trên tất cả cái gọi là phát hiện và các chi tiết ly kỳ đó những hành động yêu và muốn sở hữu đối tượng yêu bằng mọi giá cứ mỗi ngày mỗi nhiều lên mà không có bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy có dấu hiệu giảm xuống. Nó tương tự như câu chuyện giảm tai nạn giao thông của tay Thăng. Chủ trương quyết liệt chống tham nhũng. Càng đề ra nhiều biện pháp, giải pháp nhiều chừng nào thì số vụ việc tham nhũng và người chết lại càng tăng tương ứng chừng đó!?
Vậy liệu còn có câu hỏi thú vị khả dĩ nào cần đặt ra cho câu chuyện những kẻ yêu hành xử mất cả chì lẫn chài thế kia? Liệu còn có khía cạnh tâm lý nào mà chúng lám cái chuyện thất nhân tâm là thế? Có hay không thần tượng nào mê hoặc, bao trùm và phủ bóng ảnh hưởng lên nhân cách người đời hết sức mạnh mẽ những kẻ bất học hay hữu học chi cũng bất tri kỳ lạ?
Đến đây người ta cũng tự hỏi phải chi những chuyện đại khái như vậy chỉ xảy ra ở nhóm người thất học? Tất nhiên là không phải thế rồi!
Thực tế cho thấy tình yêu bất khả tri ấy đã và đang hiện diện trong mắt những kẻ bất khả tri nhưng có cái thấy của lòng tham vô độ.
Điều đáng sợ của chúng là được sự trợ giúp của bạo lực. yêu hay là chết.
Những gã yêu bất khả tri nhưng có sự trợ giúp của bạo lực ấy đang yêu một tình yêu bóng đỗ suốt máy chục năm qua. Cảm hứng tình yêu đó được truyền dụ qua nhiều thế hệ học tập bằng con đường chỉ có tin và không nghi vấn.
Từ đó tạo dựng một thế hệ những con người hành xử dựa trên lòng tham và ý muốn chiếm hữu bằng mọi giá. Xem những giả định và luận lý, bài toán của kẻ quyền lực là đúng bất chấp mọi nghiệm thức giải, mọi minh chứng thực nghiệm đúng.
Trên hết mọi điều khiến kẻ ác không sợ cái ác là vì kẻ ác ở tốp trên chưa bao giờ phải trải qua sự trừng phạt, cho dẫu là trừng phạt bằng công cụ pháp lý hay sự trừng phạt của lương tâm!?
Tiếc thay ngày còn có quá ít những kẻ thấy nhưng dám chỉ trích, những kẻ chỉ trích nhưng không thấy,..bởi chỉ vì quá sợ hãi bạo lực của chúng. Sự sợ hãi khiến chúng ta tạo dựng riêng cho mình một hành lang để đi và yên ngủ khi dùng ngôn ngữ. Chúng ta hài lòng vì cách kiếm sống ấy. Yên ổn khi nhìn gia đình chúng ta hạnh phúc trong tạm bợ và chẳng thể nào biết điều bất hạnh tất yếu gì sẽ nhào vào chỗ những người thân yêu của chúng ta trong tương lai?
Sự sợ hãi vì kiếm cơm khiến chúng ta làm cho kẻ ác ngày càng thỏa mãn vì đắc chí, đồng thời giúp cho xã hội vốn tàn tệ này ngày càng tàn tệ hơn bởi vì càng nhiều cái ác nảy sinh do sự sợ hãi nuôi dưỡng chúng!
Ngày nào còn nhũng kẻ yêu bằng công cụ hỗ trợ của bạo lực và bất khả tri tồn tại thì ngày ấy còn đó những kẻ yêu cuồng. Kẻ yêu cuồng chỉ muốn đối tương bị yêu ngoan ngoãn đi theo và phục tùng chúng vô điều kiện.
Bởi thực tế cho thấy chẳng có một điều luật nào kìm cương chúng ngoài con tim đầy tham vọng. Bất hạnh thay cho chúng ta những kẻ ác to đầu ấy vẫn còn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Thứ pháp luật do chính chúng vẽ ra và làm sợi dây trói buộc những ai dám can đảm từ chối thỏa mãn tham vọng yêu điên khùng của chúng!
Tòa án của chúng hôm nay xử chung thân một người vì cái chết của một người. Nhưng đồng thời cái tòa án khốn kiếp của những tay thẩm phán dùng ma túy ấy cũng đã xử chúng ta chung thân khổ sai- những đối tượng được yêu vì cuồng yêu của một nhóm người muốn nhưng có trong tay khẩu súng của bạo quyền.

Posted in Uncategorized | Để lại bình luận