Cha con cùng nói dối!

lyMất chìa khoá xe, mất luôn con khủng long bằng bông nhỏ híu. Món quà của con gái tặng bố. Nó bảo: “Bố móc con khủng long bằng bông này vào chìa khoá xe nhe! Con yêu con này lắm! Có nó, xem như lúc nào con cũng bên bố rồi đó!”
Tối về nhà nhờ quá giang đồng nghiệp. Con gái hỏi: ” xe đâu mà bố về nhờ?”
Bảo với con: Bố đánh rơi chìa khoá xe và con khủng long mất rồi. Con bé thoáng buồn vì mất đi người bạn thiết thân của nó. Trông con bé nghĩ ngợi lung lắm. Đi tắm ra thấy con gái đưa cho chiếc móc khoá mới, nó bảo:
-Con Doremon này bạn con nó cho lâu rồi mà con chưa xài. Bố lấy con này gắn vào chìa khoá xe mới đi bố!
Nhìn cái móc khoá mới tinh, nhìn đôi mắt ngây thơ của con bé mình nhận ra sự khác biệt trong lời nói có vẻ hoàn hảo!?
Bố cảm ơn con nhiều! Con bé đáp: “Bố phải cảm ơn bạn con mới đúng, bạn con cho con mà. Ừ vậy con cảm ơn bạn con giùm bố nhé! Con bé hài lòng vì bố có vẻ vui với món quà của nó. Quan trọng là nó nghĩ bố đã tin nó!?
Sáng, qua hỏi chị bán tạp hoá cạnh nhà. Chị bảo, bé Lý hồi hôm qua đây mua cái móc khoá Doremon.
Chiều về con bé đón ở cổng hỏi: Bố có thích cái móc khoá Doremon không? Bạn bố có khen nó đẹp không? Mình nói dối bảo có!
Nhìn con bé mân mê cái móc khoá . Chạnh lòng, ôm con vào lòng hỏi nó:
-Con có sợ bố mắng không? Con bé đáp: Con sợ. Vì sao con sợ, bố có mắng bao giờ không?
-Thế con nói dối, bố mắng thì sao? Dạ thì bố mắng đúng. Con bé đáp.
Con có nghĩ bố biết con nói dối không? Con bé im lặng nhìn mình, nhìn cái móc khoá. Nhìn dòng nước mắt chảy dài hai bên khoé mắt! Con gái vẫn cúi đầu, oà khóc nức nở:
-Tại con thương bố và muốn cho bố một bất ngờ thôi mà!

Posted in Uncategorized | Để lại bình luận

Vì sao Metro!?

Hiện nay rất nhiều nước phát triển có đường sắt đô thị-Metro. Loại phương tiện vận chuyển hành khách công cộng này có thể đi ngầm, đi nổi và đi trên cao, tuỳ theo điều kiện cơ sở hạ tầng đô thị. Đường sắt đô thị được xem là giải pháp cho bài toán vận chuyện giao thông của người dân đi lại trong thành phố ngày càng tăng cao. Đơn giản vì chúng có thể vận chuyển số lượng hành khách khổng lồ hàng ngày, tránh phát triển xe cá nhân quá mức, giải quyết bài toán ô nhiễm môi trường đô thị tại các thành phố lớn,…

Tuy nhiên để có một hệ thống ĐSĐT hiện đại như thế đòi hỏi nguồn vốn xây dựng thường rất lớn, nguồn nhân lực, vốn khoa học công nghệ, khả năng chế tạo ra phương tiện, khả năng tự thiết kế, thi công, vật liệu xây dựng hệ thống đường sắt,….Đa số các quốc gia phát triển hệ thống Metro là các nước có nền công nghiệp phát triển như Pháp, Mỹ, Nhật, Đức, Anh,..Phần lớn phương tiện vận chuyển là do họ tự nghiên cứu và chế tạo ngay trong nước. Rất ít các quốc gia xếp hạng kém phát triển dám bỏ tiền đầu tư một hệ thống như vậy, nếu không qua con đường vay vốn ODA từ các quốc gia có hệ thống metro do chính mình chế tạo.

Vậy vấn đề muốn đặt ra ở đây là vì sao một nước nghèo như VN, có nền khoa học kém phát triển, cơ sở hạ tầng giao thông đô thị thuộc hàng yếu kém trong khu vực. Quốc gia còn đang kẹt cứng trong bẫy thu nhập trung bình lại được các nước viện trợ ODA để phát triển hệ thống Metro?

Thực tế cho thấy. Khi VN ngửa tay nhận đồng vốn vay ODA của nước nào, thì VN buộc phải sử dụng hoàn toàn công nghệ của nước cho vay. Ngoài việc buộc phải mua thiết bị, VN còn phải thuê tư vấn nghiên cứu khả thi dự án,  tư vấn thiết kế, tư vấn xây dựng, tư vấn giám sát, thậm chí cả đội ngũ nhân công xây dựng đường sắt đô thị cũng của nước cho vay ODA( Trung Quốc). Ở đây có thể hiểu là VN hầu như chỉ là bên phản biện yếu ớt vì không đủ kiến thức để được biết họ làm gì. Chỉ là bên gật đầu ký vào các báo cáo nghiên cứu mà họ đã đưa ra.

Theo qui hoạch chi tiết hệ thống giao thông tại các thành phố lớn như Hà Nội và Sài Gòn từ đây cho đến năm 2030 thì Việt Nam có khoảng 12-16 hệ thống ĐSĐT, nguồn vốn ODA sẽ cần thêm ít nhất 20 tỉ USD! Hà Nội có ít nhất 8 tuyến chính, bao gồm các tuyến như Nhổn-Ga Hà Nội dài 12,5 km, Cát Linh- Hà Đông 13, 5 km, Nam Thăng Long-Tây Hà Nội dài 16 km, Tuyến đi qua khu phố cổ Hà Nội dài 11, 5 km,..Trong đó tuyến Cát Linh-Hà Đông vay vốn ODA của Trung Quốc.

Rõ ràng việc cho vay vốn ODA của các nước phát triển thực tế là để bán sản phẩm, thúc đẩy giải quyết việc làm của chính họ. Còn dự án khi hoàn thành có lợi cho quốc gia đầu tư như thế nào thì nước đó tự lo dựa trên các báo cáo khả thi mà bên cho vay đã lập ra! Đồng vốn ấy rồi cũng quay về.

Như vậy đồng nghĩa với việc nước ta xây dựng ĐSĐT trong thời gian còn kẹt cứng trong bẫy thu nhập trung bình. Theo một nghiên cứu đánh giá và dự báo, VN ít nhất phải mất hơn 40 năm nữa để có thể vượt qua được bẫy thu nhập trung bình.  Nhận định này được OECD đưa ra tại Diễn đàn Phát triển châu Á (ADF), lần đầu tiên được tổ chức tại Hà Nội ngày 19/9. Với chủ đề “Vượt qua bẫy thu nhập trung bình”. Điều đó có nghĩa là ta làm hệ thống đường sắt đô thi hiện đại và cực kỳ tốn kém như thế hoàn toàn từ tiền vay bạc hỏi. Và dĩ nhiên khoản vay khổng lồ và cực kỳ lãng phí do tham nhũng kinh khủng hiện nay sẽ do thế hệ sau gánh vác, è cổ mà trả nợ.

Từ thực tế đó, ta thường thấy giá ban đầu một dự án như vậy thường chỉ khoảng 1/2, 1/3 so với giá thực sự bị đội lên trong quá trình xây dựng hay hoàn thành. Cụ thể như hệ thống đường sát Cát Linh-Ga Hà Nội do TQ xây dựng cả gói. Bao gồm công nhân TQ, phương tiện vận tải, …Không biết vật liệu xây dựng như xi măng, sắt thép, hệ thống dẫn điện,… có phải là 100% của TQ hay không? Giá thành ban đầu chỉ 435,7 triệu USD nay thì đội vốn lên gần gấp đôi 891,9 triệu USD. Liệu đây có phải là cái giá đã chốt hạ hay còn tiếp tục đội? Một điều đáng nói nữa là hầu hết các gói thầu xây dựng ĐSĐT tại cả hai thành phố lớn đều châm tiến độ và cũng chưa biết khi nào hoàn thành?

Đó là chưa nói đến một đội ngũ nhân viên điều hành khổng lồ cho một tuyến đường, ví như tuyền Cát Linh- Hà Đông khi hoàn thành cần tới 600 người. Phí bảo trì, bảo dưỡng thiết bị chạy tàu sẽ rất tốn kém. Mặc dầu tốc độ chạy tàu có khả năng là 80km/h, nhưng tốc độ lữ hành bình quân cũng chỉ đạt 34km/h. Năng lực thiết kế có thể chuyên chở một triệu hành khách ngày. Với tình hình cơ sở hạ tầng như VN, thói quen sử dụng xe cá nhân thì liệu các tàu này có khai thác hết công suất?

Vậy câu hỏi đặt ra là VN liệu có cần thiết phải xây dựng ĐSĐT bằng mọi giá hay không? Liệu còn có lựa chọn nào khác rẻ hơn, phù hợp hơn với thực tiễn đất nước còn đang nghèo khó mà vẫn giải quyết được bài toán giao thông đô thị đang quá tải như hiện nay? Theo ý kiến chủ quan của ngừi viết bài này là với tình thế hiện tại, VN hoàn toàn có thể lựa chọn phương án khác thay thế cho việc xây dựng ĐSĐT quá tốn kém như vậy.

Việc làm đường sắt đô thị chung qui cũng là xây dựng các tuyến đường riêng đặc biệt cho một loại phương tiện đặc biệt lưu thông. Có nghĩa là trên truyến đường này sẽ không có bất kỳ phương tiện nào khác cùng lưu thông.Do đó mà phương tiện di chuyển trên tuyến đường đó sẽ không bị kẹt xe. Việc đi và đến luôn luôn đúng giờ. Ngoại trừ sự cố hỏng tàu!

Rõ ràng dựa vào ý tưởng này ta có thể thay vì làm đường sắt đô thị, thì tại sao không dùng nguồn tiền đó để làm đường dành riêng cho xe buýt? Tuyến đường cao tốc Hà Nội-Lào Cai dài 245 km xây dựng tốn hết khoảng 1,5 tỉ USD. So với toàn bộ các tuyến ĐSĐT ở cả hai thành phố lớn cộng lại cũng chưa tới 200 km. Như vậy, với số vốn của vài tuyến ĐSĐT, VN có thể xây ít nhất 200 km đường dành riêng cho xe buýt, vừa rẻ, vừa nhanh với nguồn lực hoàn toàn trong nước.

Vấn đề là VN cần phải thiết kế đóng mới xe buýt dành riêng cho các tuyến đường này phải lớn hơn, chở nhiều khách hơn, hiện đại hơn, đẹp hơn sử dụng nhiên liệu sạch ít gây ô nhiễm môi trường, đảm bảo chuyên chở hành khách đến và đi đúng giờ. Xe buýt hiện nay do Transinco-một doanh nghiệp “lợi ích” của BGTVT thiết kế và đóng mới cực kỳ xấu xí, chất lượng tồi, lưu thông trên đường làm xấu thêm bộ mặt giao thông vốn đã kém càng thêm kém!

VN là một nước nghèo, chi tiêu thế nào cho hợp lý luôn là vấn đề cần được đặt ra. Chi tiêu hợp lý cho phát triển sẽ dôi ra một nguồn vốn lớn để có thể dành cho các ngành khác chẳng hạn như chi thêm cho giáo dục để bộ viết sách giáo khoa mới bán cho con nít. Chi cho ban tuyên giáo trung ương in tài liệu tuyên truyền về Hội Nghị Thành Đô bí mật gửi cho đảng viên, chi cho quân đội mua thêm tàu lặn để bám bờ, mua súng ống sát thương để đàn áp biểu tình trái phép, chi cho bộ y tế mua thêm kim tiêm, vaccine, chi cho mặt trận tổ quốc làm từ thiện giúp dân nghèo có sức thêm tin và yêu đảng hơn!

Riêng ĐSĐT, hãy để lúc nào VN giàu hơn thì hãy xây cũng không muộn! Chỉ lo muộn là muộn cho các bác vẽ ra dự án mà không làm được, thì chẳng có chi mà xơi! Thôi thì không xơi lớn thì xơi nhỏ cũng được mà. Ăn ít no dai là vậy. ăn nhiều dễ hóc!

Posted in Uncategorized | Để lại bình luận

Làng tôi đâu rồi!?

 
Hôm nay ngồi buồn bổng nhớ hai câu thơ trong Lục Vân Tiên của nhà thơ mù Nguyễn Đình Chiểu “Trước đèn xem chuyện Tây Minh. Gẫm cười hai chữ ân tình éo le!”. Hai câu thơ gợi nhớ ngày quá khứ ngày xưa khi trở về làng tôi. Ngôi làng nhỏ xíu, trù phú nằm dọc bờ sông Tiền bị tàn phá nặng nề bởi dòng chảy hung hản của con sông mỗi mùa nước nổi tràn về.
Sau 30/75 cả gia đình dắt díu nhau về làng ni sau khi ba đã được tẩy não. Nhà cửa bị tịch thu, bị đuổi việc. Hồi xưa ông già làm hiệu trưởng trường Kỹ Thuật Nông Thôn ở Vĩnh Long. Lúc đó còn nhỏ, chỉ mới mười tuổi. Việc trở về làng nơi chôn nhao cắt rốn của mẹ đối với mình là một chuyện gì to tát và kỳ thú lắm. Không kỳ thú sao được, vì với trí tưởng tượng của thằng nhóc như mình là biết bao nhiêu viễn cảnh tươi đẹp đang chờ đón nó. Nào là tha hồ tắm sông, đi bắn chim, câu cá, đi mò cua bắt ốc,…toàn là tưởng tượng bao nhiêu chuyện để chơi và càng ít nghĩ đến việc đi học chừng nào càng thích chừng đó! Từ một thằng nhỏ thành thị, bước vèo một cái về với thế giới nông thôn, với mình quả là điều hết sức kỳ diệu.
Điều đầu tiên một thằng nhóc như mình cảm nhận được đó là đêm đầu tiên ở thôn quê không có ánh điện. Cả nhà chỉ có mỗi cái đèn dầu Huê Kỳ trứng vịt cháy leo lét. Vì là dân thành phố nên chuyện ăn cơm cũng theo nếp xưa, thông thường bữa tối vào tầm khoảng sau 18 giờ. Cả nhà năm anh em toàn lích nhích. Thằng lớn nhất là mình. Đám em nhỏ nhặng xị đòi ông già mình bật đèn để xem tivi. Ông già mình đành nói dối bọn nhóc là điện bị mất nên không thể xem ti vi được. Mấy đứa nhỏ thấy bóng tối nên càng sợ ma tợn. Mình làm anh thấy tụi nhỏ bảo ma nên cũng cuống cuồng theo.
Cả tháng đầu mỗi khi bóng đêm phủ chụp xuống sau ngày vui chiến thằng, lũ nhóc anh em nhà mình chỉ trùm chăn ngồi túm tụm trên giường chờ đợi bữa cơm tối. Tịnh không một thằng nào can đảm dám mò ra ngoài để đi đái.  Cũng vì cái tính sợ ma này mà thằng em thứ tư của mình dính cái tật đái dầm kéo dài cho tới khi nó 14 tuổi!?
Con người vốn là một sinh vật thích khi khá tốt với sự thay đổi môi trường! Dần dà rồi đám anh em nhà mình cũng bắt đầu hội nhập với đời sống thôn quê. Chúng nó không còn đòi ông già mở điện để xem ti vi, không còn sợ ma như cái hồi mới về. Mình cũng đã can đảm hơn khi dắt mấy thằng em đi đái ban đêm. Sống ở làng quê có cái thú là đái chỗ nào cũng được.
Nhà mình vườn rộng, cây cối um xùm vì bị bỏ hoang mấy chục năm nên đêm về thường nghe tiếng chim cú kêu rùng rợn. Mình nhớ có hồi thằng em thứ tư nhà bị bệnh kéo dài cả tháng. Lúc đó chả có bệnh viện hay thuốc tây gì cả. Tất tần tật nhà mình ai bệnh thì đi trị bệnh mấy thầy lang trong vườn. Thuốc của mấy ông lương y làng tôi chỉ là cây thuốc nam được mấy người làm từ thiện hái về phơi khô chặt nhỏ để làm thuốc. Thằng em bị bệnh ban bạch? bệnh tình thằng nhỏ kéo dài đến nỗi chỉ còn da bọc xương. Mấy ông thầy thuốc nam tiên lượng thằng nhỏ sẽ chết. Đêm nào tiếng đám cú vọ kêu là bà già khóc dữ lắm.
Người miền tây cho rằng tiếng kêu con cú mèo là điềm gỡ!? Còn nhớ hồi nhỏ đọc mấy tờ báo xuất bản trước khi miền nam lưu vong tờ Thần Chung thì phải, có đăng phóng sự trước khi tử hình cậu Út Trầu-Ngô Đình Cẩn thì đêm hôm trước tử hình có con chim cú mèo đậu trên nóc khám Chí Hoà kêu suốt đêm?
Mỗi lần đám cú mèo kêu ông già ra ngoài vườn lượm đá ném để xua đuổi chúng bay đi chỗ khác. Nhờ may mắn có ông thầy Năm Đạt, ông trước đây là thầy giáo làng, ổng có bằng đíp-lôm thời tây cũng hành nghề thuốc nam. Ổng đến gặp ông già mình và nói ” thằng nhỏ có lẽ không còn sống được bao lâu. Mọi phương cánh thầy-ba mình cũng đã lo cho nó rồi. Thôi thì phước chủ may thầy. Tôi chỉ còn phương thức cuối cùng may ra cứu được thằng bé” Nói xong ổng kêu ông già bế thằng bé ra ngoài để ổng lể. Lể trong đông y thời đó là dùng mảnh sành sạch cắt lên da đứa em mình. Cắt chỗ nào ổng dùng tay nặn máu chỗ đó. Ổng bảo là máu thằng nhỏ có màu đen? Lể đau đớn vậy mà thằng em mình chả hề khóc tiếng nào, đơn giản vì thằng nhỏ quá yếu để mà có phản ứng lại với đau đớn.
Sau khi lể xong, Cậu Năm Đạt-mình kêu ổng bằng cậu về phòng mạch bốc cho thằng nhỏ một thang thuốc. Ổng nói với ông già sau ba thang mà thằng nhỏ không ngồi dậy ăn cháo thì tôi cũng đành bó tay! Ơn trời sau ba thang thuốc của ổng thằng em mình hồi phục và khỏi bệnh hẳn. Thằng em khỏi bệnh bà già đến quỳ lại cậu năm rồi oà khóc nức nở!
Ông thầy năm Đạt người ốm như que củi, chỉ ăn chay trường. Trong nhà ổng cực kỳ sạch sẽ, ổng sống thanh tịnh. Cứu người nhưng ai đưa tiền ổng đều không nhận và cực kỳ khó tính. Ai có bệnh đến mà có thái độ không phải là đuổi về không điều trị. Thường người bệnh đến điều trị chỉ cần trả công cho ông Năm bằng cách hái mấy cây thuốc mọc hoang về rửa sạch, bỏ bao đem đến để ổng làm thuốc. Mỗi tuần ổng đóng cửa một lần, dắt chiếc xe đạp đòn dong đi kiếm thuốc khắp các vườn trong làng. Vườn nhà mình rộng lại còn khá hoang hoá nên hầu như tuần nào cũng thấy cậu năm lúi húi đào xới để tìm thuốc. Bà già mình thi thoảng có đồ ăn đem biếu nhưng ổng không nhận, phải lén lút đưa cho mợ năm. Ổng mà biết được mợ năm nhận đồ biếu của ai là ổng đánh dữ lắm.
Cậu năm có ba người con, nhà không có ruộng vườn chi cả mấy người con của cậu năm cũng làm thuê, làm mướn trong làng, mợ năm cũng làm thuê. Ba mình hay kêu mợ năm làm cỏ vườn. Bà có tâm rất sạch, nghèo khó vậy mà không bao giờ sơ múi bất cứ cái gì của ai. Làm vườn nhưng hễ thấy trái cây trong vườn rụng, bà đều lượm rồi đem vô cho má mình.
Mỗi khi làm vườn bà năm đều bới cơm đem theo. Buổi trưa của bà thường thấy là muối mè, và ít rau dại hái trong vườn. Khi nào ngon lắm có cái trứng luộc hoặc miếng đậu hủ kho nhỏ xíu!
Anh con lớn của mợ năm tên là Bé Ba, anh này trước đây đi lính chế độ cũ, bị thương nên sau khi về làng thay đổi tính tình suốt ngày nhậu như hủ chìm. Anh năm con út đi bộ đội ở Campuchia bốn năm mới về làng dắt theo cô vợ người Campuchia. Về được năm ngày trở lại Cam rồi biệt tích luôn từ đó.
Chị Bé Tư yêu một người làng khác dắt về nhà giới thiệu cậu Năm không đồng ý. Nghe nói chị khóc hết nước mắt năn nỉ mà ông già cũng không thay đổi quyết định. Bỏ nhà theo trai và biệt tích luôn từ dạo đó. Người trong làng không ai còn thấy chị trở về vì nghe nói cậu Năm đã từ chị và thề độc “tao có chết mày cũng đừng có trở về mà chịu tang”. Tội nghiệp mợ năm phận đàn bà cam chịu, bà ngày ngày lầm lũi như chiếc bóng. Ngày ngày đi làm thuê mua gạo để nuôi ông thầy thuốc thanh bần!
Cậu Năm Đạt mất không thấy bất kỳ đứa con nào về chịu tang ông ngoài anh Bé Ba ngồi cạnh quan tài say ngất ngưỡng. Cậu năm mất bà Năm cũng bỏ làng đi ra chợ Sa Đéc ăn mày, bà già yếu quá không ai còn thuê. Ông già mình bảo mợ năm lang thang đi ăn xin thấy đau lòng làm sao!
Bà năm chết vào một ngày mưa khóc lóc tháng bảy. Bà chết không một giọt nước mắt khóc thương nào nhỏ xuống cho bà. Ngày bà chết nghe đâu hội từ thiện cho cái hòm bằng ván gòn, người ta liệm bà trong áo quan rồi đem thiêu. Anh bé ba giờ không còn uống rượu nữa mà hành nghề chạy xe ôm. Ông già thi thoảng có gặp ngoài chợ Sa Đéc. Mỗi lần gặp ảnh hỏi thăm mình “thằng Cu nhà chú giờ làm gì sao không giúp gì được cho chú hay sao mà chú già rồi còn phải đạp xe đạp đi chợ cực khổ vậy chú!?” hic
Nước mình sắp được lên thiên đường tới đít rồi, con người ai cũng có quyền chọn cho mình cảnh khổ để hưởng sái nghĩ thiệt là nhân văn và độc đáo lạ thường! Ai chưa một lần lâm vào cảnh khổ cũng nên thử tham gia vào đám người cùng khổ một lần để nếm trải cay đắng mùi đời cho biết, kẻo sau này có muốn khổ, muốn chết chẳng còn dịp nữa, bởi rồi tất cả chúng ta đều sống mãi như tiên ông Bành tổ đó thôi!
Posted in Uncategorized | Để lại bình luận

Dì Tư Xom.

 
Hồi còn sống ở cái làng An Hiệp bé tẹo, nghèo khó. Đất đai là công cụ sản xuất của Đảng giao cho dân bị Hà Bá ngày đêm xà xẻo! Dân tình nhộn nhạo mai dỡ nhà, mốt dựng nhà. Cứ điệp khúc này mà hát mãi nên nhà ngày càng bé tẹo và tạm bợ hơn! Nhà mình chẳng khá gì hơn là cái chòi lá của trẻ con thuở chơi nhà chòi.
Đối diện với căn hộ rách bươm nhà mình phía bên kia sông là nhà dì tư Xom. Dì tư dáng người nhỏ thó, miệng rộng, ăn nói sang sảng như đàn ông. Miệng lúc nào cũng bỏm bẻm nhai trầu. Ngán nhất là mỗi khi bả qua nhà chơi trong lúc miệng đang nhai trầu. Cứ bạ đâu phun đó. Vì là khách đến chơi nhà nên không cách chi nói được với dì. Nhà thì nền đất chỗ nào di tư phun trầu nó cứ nhão ra. Đã thế khi nhai trầu nước dãi màu đỏ ứa ra hai mép, dì tư dùng ngón trỏ và ngón cái quẹt mồm rồi quệt lên thành ghế hay vách nhà thiệt là ớn hết sức!
Dì tư có tật là ghé nhà mình có khi ngồi nói chuyện đến khuya. Dì nói bất kể chuyện chi. Nói về gia đình dì, tố khổ cái lão chồng dâm loàn đã bỏ dì theo người đàn bà khác. Nói về đám con dì, con dâu dì,…Nhiều khi nói những tình huống khiến dì cười đái trong quần luôn! Oải nhứt là khi đang học bài gặp dì tư qua chơi nhà, y như rằng sáng hôm sau tiết kiểm tra miệng ăn phải con ngỗng là chuyện thường tình. Hồi nhỏ học hành dỡ hơi. Bài chi thuộc lòng phải gạo đi gạo lại cả tiếng mới may ra nhớ lõm bõm!
Nhà di tư Xom không có đất ruộng trồng lúa. Dì bảo, tao trước kia nhà cũng có cả chục công ruộng trồng lúa một vụ rất trúng. Nhưng cái thằng chồng cặt ngựa câu kết với con đĩ lồn lừa đã lừa bán cho người khác rồi!?
Thu nhập chính của Dì tư Xom là cách nhật chèo xuồng sang phía bên kia bờ sông Tiền, thuộc huyện Cao Lãnh để hái rau muống mọc dại về bó thành từng lọn nhỏ rồi đem ra chợ Sa Đéc bán lấy tiền đổi gạo! Hồi đó người dân quê tôi gọi vùng đất màu mỡ phía bên kia sông Tiền là bên cồn. Cồn tức là vùng bãi bồi phù sa. Nơi đó dân chúng thưa thớt, đất còn hoang hoá. Bãi bồi có nhiều tôm cá, rau cỏ mọc xanh um, cực kỳ tươi tốt. Đặc biệt rau muống đỏ, cọng nào cọng nấy mập ú cỡ ngón tay cái, Rau trai cọng to bằng ngón tay trỏ, hái về luộc, ăn mềm và ngọt. Ăn cơm bằng rau này luộc chắm mắm kho quẹt là số dzách!
Mắm kho quẹt của người nhà quê miền tây khác một trời với món kho quẹt chấm rau tập tàng trong mấy nhà hàng quán nhậu đất Sài Gòn. Kho quẹt của người miền tây là nước mắm bỏ vào cái ơ đất nung đặt lên bếp củi và đun chừng nào cạn còn lại hổn họp sền sệt như muối. Món kho quẹt tuỳ chỗ giàu nghèo mà có thêm chút đỉnh sự khác biệt, khi thì thêm vào ít tép mỡ, mấy trái ớt hiểm xanh. Kho quẹt chấm rau luộc, rau sống chỉ tổ vở nồi cơm nhà nghèo. Thời đó gạo vốn là thứ chính trong bữa ăn hàng ngày. Ngoài trời mưa lâm thâm ăn cơm với nước mắm kho quẹt là sướng nhứt. Ăn xong một đập hai xoa leo lên giường trùm chăn ngủ một mạch tới sáng còn chi bằng!
Phần lớn người làng tôi đều sang cồn để kiếm sống. Nào là đánh cá, chất chà cá he, chà tôm, cào hến, chặt ngó bần về làm củi đốt, hái rau muống, làm thuê cho mấy chủ đất giàu có bên kia,…
Dì tư làm việc cần mẫn hàng ngày. Trong đời chưa thấy người đàn bà nào cực khổ như dì. Ngày nắng hay ngày mưa gì bà cũng đều đặn làm cái công việc cực khổ đó mình ên. Sáng tầm 3 giờ sáng, dì tư dậy nấu cơm gói vào lá chuối với ít con khô, múc một ấm nước lóng phèn đem xuống xuồng, rồi bơi một mình sang kia sông để hái rau muống. Công việc bơi xuồng ghe nhỏ qua sông Tiền trong mùa mưa bão thường gặp nhiều rủi ro chết người. Sợ nhất là lúc giông gió thời điểm vượt sông. Mặt sông đang yên lặng bỗng sóng nổi cồn cao 2-3 mét, quật từng cơn thì xuồng ghe nhỏ, chở khẳm là bị nhấn chìm như chơi. Làng tôi chứng kiến nhiều vụ lật xuồng rất thương tâm!
Hồi đó có con bé tên Sáu Sậu cũng cỡ tuổi mình có mang đâu chừng sáu tháng đi cấy bên cồn về xuồng bị giông lốc nhấn chìm. Trên xuồng có 6 người. Ba người chết trong đó có Sáu Sậu và đứa con hài nhi trong bụng! Xác Sáu Sậu trôi tuốt xuống bến phà Mỹ Thuận phải bốn ngày sau người nhà mới tìm thấy đã trương phình! Sáu Sậu chết lúc mới 16 tuổi cùng với đứa con không biết ai là ba nó!? Sáu Sậu mồ côi cha mẹ, ở với ông ngoại có thời đi lính cho Tây tận Algieri!
Thường dì tư đi từ sáng sớm đên tối mịt mới trở về nhà. Ngoài đống rau muống ngập xuồng còn có mấy trái bần chín cây, bắp chuối xiêm, xoài chín,…dì bảo là lượm trong các bờ đê bao!? Về nhà bà cột cái xuồng vào bến rồi một mình lúi húi vác lên bờ để lặt là già, lá sâu xia, cắt bỏ rể mọc từ nách lá, bó thành từng lọn cỡ cổ tay người lớn bằng cọng lá chuối khô xé nhỏ. Thường dì chỉ làm việc một mình. Có nhiều đêm dì làm cho tới gần sáng mới xong. Sau khi đã bó xong, dì lại vác xuống xuồng rồi bắt đầu chèo ghe ra chợ Sa Đéc để bán.
Hồi đó từ làng ra đến chợ Sa Đéc đường sông khoảng chừng 4-5 cây số, chỉ có một con đường ngắn nhất là đi cặp dòng sông Tiền. Ngán nhất là chèo ghe đi vào mùa nước nổi. Vào mùa này, nước phù sa đỏ ngầu từ thượng nguồn đổ về rất mạnh. Suốt mùa nước nổi dòng chảy chỉ một chiều duy nhất. Dòng chảy mạnh đến nỗi nhiều khi ghe trang bị máy đuôi tôm cũng phải ì ạch vượt qua những chổ xoáy hiểm trở. Đó là chưa kể đến hiện tượng đất lỡ hết sức nguy hiểm. Nếu ai xui xẻo đang đi gặp đất lỡ thì xuồng ghe bị hút vào và nhấn chìm tợ như gặp cơn sóng thần nhỏ. Hồi trước nhà mình cũng từng bị mất chiếc ghe vì đất lở. Đất lở ngoài vàm sẽ tạo hiện tượng nước trong các con lạch nhỏ bị hút ra, kéo theo ghe neo đậu trong lạch cũng bị hút theo. Nếu không phát hiện kịp ghe trôi ra sông lớn, mất luôn!
Gặp chổ vịnh, nước chảy yếu dì tư chèo, gặp chổ xoáy nước chảy mạnh không thể chèo được dì tư cặp bờ, leo lên ruộng dùng tay kéo ghe vượt qua! Nhẫn nại, chịu thương chịu khó một mình dì cũng tới chợ. Nhiều hôm nước ngoài ruộng ngập quá lưng quần, dì phải vừa bơi vừa kéo ghe rau muống khẳm đừ! Bán xong bơi xuồng ra sông Tiền thả trôi dòng nước đưa dì về xóm cũ. Nhiều hôm dì tư mệt mỏi ngủ thiếp đi, thuyền trôi tới phà Mỹ Thuận! Cách xa nhà dì cả chục cây số. Đời đã khổ lại càng khổ hơn!
Dì tư có bốn người con, ba trai một gái. Đứa nào dì cũng cực khổ lo cho ăn học. Anh con lớn của dì tư học dang dỡ đại học văn khoa Sài Gòn, về lấy vợ sớm. Gặp cô vợ quá quắt nên dì tư chửi suốt ngày. Đứa thứ hai là gái học trên Sài Gòn rồi lấy anh chồng hải quan gốc bắc kỳ. Anh thứ ba ra làm công thương nghiệp ở tận Hồng Ngự. Còn ở với dì là thằng Út, suốt ngày đi chơi bời lêu lỏng, bỏ học sớm, chả thấy phụ dì tư làm gì hết. Phần là dì tư có tật chửi con cái. Mỗi lần bả chửi mấy tiếng đồng hồ. Chửi con đã, rồi lôi chồng ra chửi. Nhiều đêm dì tư vừa lặt rau muống vừa chửi chồng con ra rả cả đêm. Có khi chửi đã dì ngủ luôn sáng bảnh mắt, quên cả lặt rau. Chuyến chợ đó coi như dành lại cho ngày hôm sau.
Dì tư có tật hay chửi hàng xóm vì chuyện không đâu. Chuyện tàu lá dừa nhà dì rụng xuống nhà bên bị người ta lấy mất làm lá nhúm lửa dì cũng chửi. Về nhà mất cái này cái kia dì nghi ngờ ai là cứ chõ mỏ sang nhà đó mà chửi. Ai nhột lên tiếng chửi lại. Thì ô hô, một trận chiến ngôn ngữ sử dụng linh vật được tung ra!
Dì chửi, nếu không ai phản ứng gì thì cuộc chửi kéo dài chừng tiếng đồng hồ. Chửi lại thì dì chửi tiếp, chửi khi nào khan tiếng thì thôi.
Dì tư không biết chữ nhưng được cái là thuộc rất nhiều ca dao tục ngữ nam bộ. Đêm miền quê yên ắng, một mình dì tư bên cái đèn trứng vịt, những đêm thanh bình không chửi chồng con, hàng xóm thì dì hát đối một mình. Có khi thì dì đọc thơ lục bát của đức Huỳnh giáo chủ. Ba của dì tư nghe nói là tín dồ của phật giáo Hoà Hảo nên nhờ vậy mà dì thuộc thơ của ổng rất nhiều!
Làm lụng cực khổ cả đời như thế mà dì tư sống thọ phết, bà chết nghe đâu cũng gần chín mươi tuổi mặc dù có thời kỳ dì mắc bệnh lao vì lao lực quá sức!
Cuộc đời dì quả thật ứng với câu nói bất hủ ” Con người sinh ra chỉ để đau khổ rồi chết!”. Dì sống với cả đời cực khổ, chồng thì bỏ, con cái vì ớn cái tánh hay chửi của dì nên chẳng dám đem dì về phụng dưỡng. Cuối đời có rỗi rãnh chút đỉnh…nhờ bệnh tật và cũng chẳng còn sức khoẻ để làm!
Posted in Uncategorized | Để lại bình luận

“Rửa tội”

Hồi nhỏ ở làng mình có lão già dịch nghèo khó, ốm cà tong, cà teo. Nghề kiếm sống của lão già ấy là đạp chiếc xe đòn dong đi bán đá lửa, hột quẹt, dầu lửa, tim đèn,.. Lão nghèo đến nỗi quần áo rách bươm, đầu tóc bạc phơ, râu để dài đến rốn. Trên người lão lúc nào cũng vận hai cái áo rách như tổ đĩa. Cổ quấn chiếc khăn rằng màu cháo lòng sặc sụa mùi thuốc lá, mùi mồ hôi đã lâu ít khi tắm.
Chiếc Xe đòn dong cà khổ của lão chỉ là khung sắt hoen gỉ, chẳng còn ký ức màu sơn của một thời. Cái vỏ xe còn kinh khủng hơn nhiều. Lão đi xe đạp không ruột. Để có thể chạy được trên con đường làng gồ ghề, lão cập nhiều lớp vỏ vào rồi dùng ruột cao su quấn thật cẩn thận. Giống như thời nay người ta dùng bánh cao su đặc để đẩy xe cút kít vậy?
Đồ nghề kiếm cơm độ nhật của lão là chiếc túi thầy tu màu vàng bạc phết được treo cẩn thận ở đằng trước tay lái.
Hàng ngày lão đạp xe khắp làng trên xóm dưới bán cho mấy bà nông dân, thanh niên, mấy cụ già,… cà khổ sau thời hậu chiến tranh miền nam mua để nhúm lửa, đốt thuốc rê,..
Lão già được dân trong xóm đặt biệt danh ông già be he vì cái tật dê lộ liễu, và câu rao hàng danh bất hư truyền của lão. Thời ấy lão đâu chừng 70 cái xuân xanh. Mỗi khi rao bán hàng lão thường nói “Ai mua quẹt, đá lửa, tim đèn không, be he he e e….”
Mấy bà nông dân trong xóm rất ngại khi phải mua hàng của lão vì cái tánh dê chẳng nể nang ai. Gặp mấy bà “hôm qua đi nhận xác chồng” lão lại càng dê tợn! Bà nào sống một mình, tính tình lẳng lơ là lão xáp tới mò vú ngay.
Hồi ấy trong xóm có mợ Năm Giòn, chồng chết trận năm sáu tám. Mỗi lần đạp xe qua đây, lão cố tình dừng lại thật lâu để mong nhìn thấy mợ!?
Mợ năm có bốn người con. Mợ còn trẻ, tướng người thắt đáy lưng ong. Mợ có cặp vú đầy đặn chết người. Ba chồng sợ mợ đi bước nữa nên bắt mợ ăn trầu, mặc quần đáy nem trông sao cho già quéo đi!
Cứ mỗi lần đứng đấy, tiếng rao của lão càng khiêu khích hơn. Ông năm Điểu-cha chồng mợ căm lão lắm. Có lần ổng chửi lão một trận. Từ đó lão cạch không dám nhìn mợ nữa. Mỗi khi đạp xe qua lão chỉ thở dài, rồi rao mà không đệm vào từ be e heeee ở cuối câu!
Dân làng bảo, hồi nhỏ lão tu hành đạt phẩm hạnh thuộc hàng cao quí. Nghe đâu đã từng làm trụ trì chùa ở hàng nhất phẩm. Tiếc thay vì vận số, vì tục luỵ mà lão cựu sư cụ không giữ được mình. Hồi trẻ người ta bảo lão đẹp trai, lại có tài ăn nói nên thí chú đi chùa cúng dường chư phật, thành tâm xám hối, cầu nguyện an lành đâu không thấy, chỉ thấy sư cụ thò lỏ dòm như chó nhìn cứt trôi sông lòng thòng nhễu nhại, thèm thuồng vụng trộm!
Phật tử đàn bà tới chùa ngày rằm hay đêm sáng trăng chỉ thấy thầy áo mão chỉnh tề, đọc kinh tụng niệm. Đám con nhang xì sụp khấn vái. Tàn buổi cầu kinh phật tử quay về nhà, đẫy giấc cho buổi đồng áng ngày may.
Sư cụ lủi thủi hào hứng lui về hậu liêu cùng với thí chủ cúng “giường chiếu”, đàm luận phật sự cùng lão.
Tiếng “lành” đồn xa. Mấy lão nông tri điền nổi giận rình mò, vớ bẩm sư cụ đang mây mưa tìm chốn cực lạc chẳng qua tu thiền, kinh thỉnh chánh niệm. Đám nông dân nổi giận tận cho sư cụ thức tỉnh bằng côn sắt và nắm đấm. Đuổi cổ sư cụ trần truồng lỏng nhỏng chạy tít ra đồng.
Từ ấy, sư thôi không còn tu hành chi nữa. Đổi lại cho nỗi buồn thất sũng vì chuyện gái gú. Sư dùng dao chặt đứt cái của quý mà vì nó khiến con đường tu nghiệp giải thoát cái khổ, chấm dứt kiếp luân hồi nửa đường gãy gánh!
Duy có điều, lão già vẫn giữ thói quen ăn chay trường cho đến cuối đời.
Hồi nhỏ, trước nhà có hàng tre trúc toả bóng mát quanh năm. Mỗi lần đi bán ngang đây quãng giờ ngọ. Lão dừng xe, dỡ gói cơm lá chuối, ngồi xếp bằng miệng lẩm bẩm cầu kinh. Bữa cơm chốn thiền môn dang dỡ của lão trông thiệt buồn lòng. Gạo đỏ cứng còng queo, vài trái dưa chuột đèo đọt luộc, ít muối mè. Nhìn thấy ông lão ăn, con nít như mình thèm nhỏ giãi. Phải giờ cơm, bưng tô ra ngồi kế bên, khi thì lão sớt cho miếng chao, ít trái luộc. Thuở ấy miếng ăn cứ mà nhớ đời hoài!
Những tưởng sư xử cái nguồn gốc gây ra phiền não là chấm dứt phiền não!?
Chẳng những nỗi vọng thèm khát đàn bà trong lão không hề giảm đi mà có phần biến thái qua trạng thái khác còn kinh khủng hơn. Gặp người nào lẳng lơ là lão cứ thò tay bóp vú chẳng ngại ngùng. Có điều vì cái của nợ ấy chẳng còn, nên nỗi thèm khát đàn bà của lão cứ ứ nghẹn trong ánh mắt và hành xử qua thói quen sàm sỡ!
Nghĩ về câu chuyện làng hồi ấy mới thấy cái liêm sĩ của con người vẫn vọng về trong cách sống. Dầu lão ấy không dứt được nghiệp quyến rũ đàn bà nhưng ít ra lão còn liêm sĩ xử cái làm lão thoả mãn., cái gây cho lão bao phiền não ưu tư!
Tiếc thay, cái muốn trong trí não ấy còn đang sống! Cho dù lão có cắt con cu ấy nhiều lần thì chuyện đàn bà cứ vẫn sống khoẻ như ngày nào!
Kỳ lạ thay, kẻ vô liêm sĩ thời nay trong chốn tu thiền đạo đức tiền nhân thay vì hành động trưởng thượng như lão già be he bán quẹt đá lửa, nay ra lệnh giết đàn bà.
Loáng thoáng đâu đó trong lịch sử, cũng đã hơn một lần cho thấy tay tiền nhân đạo đức ấy cũng đã giết đàn bà để bảo toàn danh dự cho sự trinh tiết của gã khi còn là CON NGƯỜI!
Diệt đối tượng là động cơ, nguyên nhân gây ra phiền não, thay vì diệt ý niệm dục thức dậy trong trí não của lão thầy tu khốn kiếp là chuyện nên làm? Quyền lực nằm trong bàn tay đầy máu, cái ngu biến thành cái ác luôn đồng hiện mãi mãi, phi thời gian.
Tấn trò đời thô bỉ ấy như là minh chứng cho sự liêm khiết? Rằng thoả mãn nhục dục bằng đàn bà, giết đàn bà để quay về nẻo thiện. Phải chăng là tấm gương sáng được nhóm công cụ quyền lực nhiệt tình học tập để thành chánh quả!?

Posted in Uncategorized | Để lại bình luận

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP Năm 2014. Sửa lại chút đỉnh vẫn xài được.

Dân Việt Nam sưu tầm và biên soan dựa trên tuyên ngôn độc lập của Hồ Quang.
Hỡi đồng bào cả nước,
“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.
Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.
Thế mà hơn 80 năm nay từ khi có ĐCS, bọn chúng lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất của dân ta, đền bù với giá rẻ mạt không ai chịu nỗi, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.
Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.
Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ nhà nước giống nhau ở Trung, Nam, Bắc để thống trị ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng dùng giang hồ đội lốt thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các người yêu nước của ta trong những bể máu.
Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.
Chúng bán bia , rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.
Về kinh tế, chúng bóc lột, tham nhũng dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.
Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.
Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng.
Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên, ngoại trừ tư bản thân hữu và tư bản đỏ. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.
Mùa thu năm 1988, phát xít Tàu đến xâm lăng Gạc Ma để mở thêm căn cứ đánh ta ở Biển Đông, chúng hoàn toàn yên lặng, quỳ gối đầu hàng bằng hội nghị thành đô, mở cửa nước ta rước Tàu thêm một lần nữa. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Đảng cộng sản Trung Quốc và Đảng cộng sản Việt Nam. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Nam Kỳ ra trung kỳ rồi đến Bắc kỳ kinh tế ta suy sụp hoàn toàn. Theo khảo sát mới nhứt để thoát ra cái bẫy sập trung bình thì nước ta cần 44 năm nữa.
Ngày 1 tháng 5 năm nay, TQ ngang nhiên đặt giàn khoan vào Biển Đông. BCT hèn nhát hoàn toàn im lặng, hoặc là đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không “bảo vệ được chủ quyền quốc gia mà chúng đã bán nước ta hai lần cho Tàu.
Trước ngày 16 tháng 7, biết bao lần người dân đã xuống đường kêu gọi bọn Tàu cộng rút giàn khoan, kêu gọi nhà nước, BCT thôi hèn với giặc ác với dân cùng liên minh với dân để chống lại hành vi xâm phạm chủ quyền trắng trợn của chúng.BCT-ĐCS đã không đáp ứng lại mà còn thẳng tay khủng bố người yêu nước hơn nữa. Thậm chí đến ngày 15 tháng 7 khi thua chạy-TQ đã rút giàn khoan Hải Dương ra khỏi Biển Đông, chúng còn nhẫn tâm tuyên bố đó là nhờ thiên tài Đảng ta.
Tuy vậy, đối người CS, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày 1 tháng 5, dân ta đã đón nhận nhiều người dũng cảm bỏ đảng quay về với quần chúng và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.
Sự thật là từ sau Hội Nghị Thành Đô năm 1990, nước ta đã thành thuộc địa của Tàu, chứ không phải thuộc địa của Nga nữa. Nay là lúc nhân dân cả nước phải nhận rõ sự thực này để nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Cộng hòa.
Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Tàu, chứ không phải từ tay Nga.
Ba X chạy, Hói hàng, vệ Kính Vương thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích CS gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ độc tài mấy mươi năm qua mà lập nên chế độ Cộng hòa.
Bởi thế cho nên, chúng tôi, Người Dân của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Trung Quốc, xóa bỏ hết những hiệp ước mà TQ đã ký với nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của TQ trên đất nước Việt Nam.
Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân bành trướng Bắc Kinh.
Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng, nhân quyền tại Liên Hợp Quốc, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.
Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Tàu hơn 1000 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng lên chống độc tài cộng sản mấy chục năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!
Vì những lẽ trên, chúng tôi, người dân của nước Việt Nam Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:
Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

Posted in Uncategorized | Để lại bình luận

Dự phóng

Thành phố trầm mặt, nghĩa trang công viên buồn hiu hắt. Tiếng con chim sẻ lẻ bầy gọi đàn trong chiều mưa tầm tã. Thực ra người nghe cũng dự phóng tiếng gọi đàn của con chim sẻ tợ như tiếng gọi đàn con bé bỏng sau cơn cuồng phong vừa quét qua thành phố- ngôi nhà nhỏ nhoi của chúng bị thổi bay đi-cùng với đàn con mà mới sáng nay còn tíu tít há những chiếc mỏ rộng vành chờ con sâu nhỏ của mẹ. Cái hình ảnh dự phóng của chiều mưa buồn ấy cũng đủ khiến lòng nó dậy lên hoài niệm một chút hình ảnh nào đó trong quá khứ đã chết cùng với cái tương lai khả dĩ khi quá khứ ấy không xoay chiều theo gam màu xám u buồn?
Vài bóng người lẫn khuất trong hàng bia mộ. Xa xa tiếng chuông nhà thờ vang khúc kinh gọi hồn. Tiếng tụng niệm ê a chiêu hồn của mấy thầy tụng thấp thoáng đâu đó trong nghĩa trang.
Vài con chó cái gầy đét, hai hàng vú lõng thõng, bộ lông loang lổ vết chàm, lang thang nhặt nhạnh những mẫu bánh nhão nhoét ai đó bỏ lại.
Nó thẩn thờ ngồi nhìn làn khói mỏng manh bay lên từ những que nhang gầy guộc cắm nghiêng ngả trên nền đất sũng nước của ngôi mộ vừa được lấp đất. Vài cành hoa giần giật run run trong gió. Hàng chữ viết tên chàng cũng nhòe nhoẹt cùng giọt nước mắt tiếc thương của nó. Nó tự hỏi vì đâu con người chàng, gã trai hiền như đếm thế kia lại nhẫn tâm làm chuyện tội ác-phạm tội giết người-giết chính sinh mạng chàng.
Nó run run tự hỏi vì sao chàng yêu quá đời người này. chàng yêu quá những người thân yêu của chàng. Chàng yêu quá nó. yêu quá những con vật hiền lành chung quanh chàng. Yêu bản thân chàng là thế, mà vì môt phút nông nỗi-sự hững hờ của nó-chàng ra tay hạ sát chính sự sống của mình. Tội ác mà có lẽ còn có kiếp sau, luôn như một định mệnh ám ảnh truyền kiếp!?
Vậy phải chăng cái thứ tình yêu mà chàng thể hiện ra bề ngoài tâm hồn “rực sáng” ấy của chàng cũng chỉ là sự ẩn chứa của cái ác. Cái ác cam tâm hành hạ chính mình. Cái ác ra tay hạ thủ chính đời mình vì một dự phóng của tư tưởng chàng, của liên hệ trong tư duy hẹp hòi của chàng? Rằng “nó” là cái tất cả của đời chàng? Sự chiếm hữu nó bằng tinh yêu cao ngạo nhưnng không kém phần ích kỷ lại được ẩn danh bằng sự cao thượng? Bởi chàng chẳng mảy may bao giờ làm đau nó để chiếm hữu nó cho kỳ được trong suốt hành trình sống của chàng!? Cái hành trình sự sống ngắn ngủi nhưng dung chứa ở người đời là một tham vọng cực kỳ to lớn, tích lũy hàng triệu năm trong trầm tích sống của nhân loại.Tham vọng đó được nâng đỡ bằng giáo dục, bằng truyền thống, bằng lịch sử và bằng cả tế bào gia đình nhỏ nhoi của chàng!?
Nó biết trong mỗi con người chúng ta. Đặc biệt trong cuộc đời người nằm xuống chiều nay. Sự bức tử và làm đau chính cuộc đời mình là vì cái nghĩ ảo tưởng của tham vọng, về sở hữu mà lẽ ra nó phải thuộc về.
Khi chàng dự phóng về một điều còn chưa thuộc về chàng những hình ảnh hứa hẹn mà nếu chàng chiếm hữu nó sẽ mang lại cho chàng. Chàng liên tưởng cái hạnh phúc khi chàng vọng tưởng sẽ đẹp và dịu dàng biết mấy. Chàng mơ một giấc mơ vượt quá tầm với của năng lực giới hạn. Rồi trong hành động mơ đó chàng thỏa mãn mình đang sống, đang hưởng thụ. Đang được và đã được.
Hình ảnh của những dự phóng và liên tưởng đó liên tục xuất hiện, ngay cả khi chàng ngủ, thức, ăn uống và làm việc trong tâm trí chàng. Nó ám ảnh chàng về một điều khó mà chấp nhận cái sự thật phủ phàng rằng chàng đã mất nó ngay khi khởi đầu tiếp cận. Chính vì không chấp nhận cái sự thật thậm phi lý ken dầy trong não chàng nên chàng tự dằn vặt mình. Chàng cảm thấy cuộc đời của mình vô nghĩa biết bao nếu như chàng không có nó.
Mọi hình thái và màu sắc cuộc sống vốn luôn tươi mới xung quanh chàng giờ chỉ còn là một màu xám xịt, buồn nôn. Những lúc vui sống và năng động của bản thân trước đây giờ chỉ là một nhịp điệu buồn tẻ chán chường, bởi khi chàng mơ màng và dự phóng chàng đang sống không phải như cái chàng vốn có mà là sống dựa trên cái ảo tưởng sẽ có, dựa trên một chất kích thích khoái lạc.
Liên tưởng những hình ảnh có thật, đẹp đẽ trong quá khứ làm chàng tiếc nuối và đau buồn khôn nguôi.
Vòng lẩn quẩn đau khổ, tiếc nuối, tuyệt vọng,…lần hồi sẽ biến chàng thành kẻ vô tri và trầm uất. Tự chàng nhìn thấy sự tồn tại của chính chàng thành vô nghĩa.
Kẻ bạo tàn hơn sẽ giận dữ vì mất mát. Dĩ nhiên hành xử để cưỡng và chiếm luôn ưu tiên trong hành động, với chúng hành động chiếm hữu bằng bạo lực, cưỡng đoạt tình yêu, sự sợ hãi phục tùng luôn có cùng một thứ giá trị. Chẳng may cá nhân hay một nhóm nào đó từ chối và chống lại bạo quyền này sẽ được nhận được tương ứng sự tàn bạo của kẻ tham vọng độc tài!
Cái tất yếu kỳ vọng chỉ có duy nhất ấy là niềm đau khôn tả mà tiếc thay đã biến sự sống của chàng thành vô nghĩa. Chàng không cảm nhận sự sống của mình là một ân phúc của bản thân. Thay vào đó chàng đặt ra mục tiêu sống của mình là sự chiếm hữu cái vô hình như là một lẽ sống. Chính sự mụ mị của giới hạn trí não cùn lục đó đã khiến chàng ngu muội tự hủy hoại đời mình.
Khóc thương cho chàng vài giọt nước mắt vốn đã thừa mứa trong chiều mưa hôm nay tợ như đem muối bỏ biển. Thời gian rồi sẽ biến mọi thứ thành quên lãng. Nấm mồ chết trẻ vì cuồng yêu của chàng cũng sẽ rậm rì đám cỏ xanh. Tấm bia đá ghi tên chàng sẽ ngã đổ vì thời gian. Mai này có khi lạc bước vào chốn cũ, hẳn nó sẽ chẳng còn nhận ra nơi chốn chàng đã từng yên nghỉ. Người thân quanh chàng rồi sẽ lãng quên vì bao thứ hiện thực từ cuộc sống. Duy chỉ có cái chết của chàng là ngưng dứt mọi thứ, ngưng dứt tham vọng, ngưng dứt khổ đau,….của chính chàng!
Posted in Uncategorized | Tagged | Để lại bình luận